0236.3650403 (128)

TỔNG HỢP THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM


<p> <strong>Đỗ Văn T&iacute;nh</strong></p> <p> &nbsp;</p> <p> <strong>NỢ C&Ocirc;NG V&Agrave; NHỮNG VẤN ĐỀ LI&Ecirc;N QUAN</strong></p> <p> <strong><em>Kh&aacute;i niệm</em></strong></p> <p> Theo quy định của Luật Quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng tại Việt Nam, nợ c&ocirc;ng bao gồm nợ ch&iacute;nh ph&uacute;, nợ được ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh v&agrave; nợ của ch&iacute;nh quyền địa phương.</p> <p> - Nợ Ch&iacute;nh ph&uacute; l&agrave; khoản nợ ph&aacute;t sinh từ c&aacute;c khoản vay trong nước, nước ngo&agrave;i được k&yacute; kết, ph&aacute;t h&agrave;nh nh&acirc;n danh Nh&agrave; nước, nh&acirc;n danh Ch&iacute;nh phủ hoặc c&aacute;c khoản vay kh&aacute;c do Bộ T&agrave;i ch&iacute;nh k&yacute; kết, ph&aacute;t h&agrave;nh, ủy quyền ph&aacute;t h&agrave;nh theo quy định của ph&aacute;p luật. Nợ Ch&iacute;nh phủ kh&ocirc;ng bao gồm c&aacute;c khoản nợ do Ng&acirc;n h&agrave;nh nh&agrave; nước Việt Nam ph&aacute;t h&agrave;nh nhằm thực hiện ch&iacute;nh s&aacute;ch tiền tệ trong từng thời kỳ.</p> <p> - Nợ được Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh l&agrave; khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức t&agrave;i ch&iacute;nh, t&iacute;n dụng vay trong nước, nước ngo&agrave;i được ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh.</p> <p> - Nợ ch&iacute;nh quyền địa phương l&agrave; khoản nợ do Ủy ban Nh&acirc;n d&acirc;n cấp tỉnh, th&agrave;nh phố, trực thuộc trung ương k&yacute; kết, ph&aacute;t h&agrave;nh hoặc ủy quyền ph&aacute;t h&agrave;nh.</p> <p> <strong><em>Đặc điểm của nợ c&ocirc;ng</em></strong></p> <p> Tuy c&oacute; nhiều c&aacute;ch tiếp cận rộng hẹp kh&aacute;c nhau về nợ c&ocirc;ng, nhưng về cơ bản, nợ c&ocirc;ng c&oacute; những đặc điểm chủ yếu như sau :</p> <p> - Thứ nhất : Nợ c&ocirc;ng l&agrave; khoản nợ r&agrave;ng buộc tr&aacute;ch nhiệm trả nợ của nh&agrave; nước. Kh&aacute;c với c&aacute;c khoản nợ th&ocirc;ng thường, nợ c&ocirc;ng được x&aacute;c định l&agrave; một khoản nợ m&agrave; Nh&agrave; nước (bao gồm c&aacute;c cơ quan nh&agrave; nước c&oacute; thẩm quyền) c&oacute; tr&aacute;ch nhiệm trả khoản nợ ấy. Tr&aacute;ch nhiệm trả nợ của nh&agrave; nước được thể hiện dưới hai g&oacute;c độ trả nợ trực tiếp v&agrave; trả nợ gi&aacute;n tiếp.</p> <p> - Thứ hai : Nợ c&ocirc;ng được quản l&yacute; theo quy tr&igrave;nh chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nh&agrave; nước c&oacute; thẩm quyền. Việc quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng đ&ograve;i hỏi quy tr&igrave;nh chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đ&iacute;ch : Một l&agrave;, đảm bảo khả năng trở nợ của đơn vị sử dụng vốn vay v&agrave; cao hơn nữa l&agrave; đảm bảo c&aacute;n c&acirc;n thanh to&aacute;n vĩ m&ocirc; v&agrave; an ninh t&agrave;i ch&iacute;nh quốc gia. Hai l&agrave;, đề đạt được những mục ti&ecirc;u của qu&aacute; tr&igrave;nh sử dụng vốn.</p> <p> - Thứ ba : Mục ti&ecirc;u cao nhất trong việc huy động v&agrave; sử dụng nợ c&ocirc;ng l&agrave; ph&aacute;t triển kinh tế - x&atilde; hội v&igrave; lợi &iacute;ch cộng đồng. Nợ c&ocirc;ng được huy động v&agrave; sử dụng kh&ocirc;ng phải để thỏa m&atilde;n những lợi &iacute;ch ri&ecirc;ng của bất kỳ c&aacute; nh&acirc;n, tổ chức n&agrave;o, m&agrave; v&igrave; lợi &iacute;ch chung của cộng động, để ph&aacute;t triển kinh tế, x&atilde; hội của đất nước v&agrave; phải coi đ&oacute; l&agrave; điều kiện quan trọng nhất.</p> <p> <strong><em>Ph&acirc;n loại nợ c&ocirc;ng</em></strong></p> <p> Theo quy định Điều luật 4 Luận Quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng 2017 c&oacute; hiệu lực thi h&agrave;nh từ ng&agrave;y 01/07/2018 th&igrave; việc ph&acirc;n loại nợ c&ocirc;ng được quy định cụ thể như sau :</p> <p> - Nợ ch&iacute;nh phủ bao gồm :</p> <p> + Nợ do Ch&iacute;nh phủ ph&aacute;t h&agrave;nh c&ocirc;ng cụ nợ</p> <p> + Nợ do Ch&iacute;nh phủ k&yacute; kết thỏa thuận vay trong nước, ngo&agrave;i nước</p> <p> + Nợ của ng&acirc;n s&aacute;ch trung ương vay từ quỹ dự trữ t&agrave;i ch&iacute;nh của Nh&agrave; nước, ng&acirc;n quỹ Nh&agrave; nước, quỹ t&agrave;i ch&iacute;nh nh&agrave; nước ngo&agrave;i ng&acirc;n s&aacute;ch.</p> <p> - Nợ được Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh bao gồm :</p> <p> + Nợ của doanh nghiệp được Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh</p> <p> + Nợ của ng&acirc;n h&agrave;nh ch&iacute;nh s&aacute;ch của Nh&agrave; nước được Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh</p> <p> &nbsp;- Nợ ch&iacute;nh quyền địa phương bao gồm :</p> <p> + Nợ do ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh quyền địa phương</p> <p> + Nợ do vay lại vốn ODA, vay ưu đ&atilde;i nước ngo&agrave;i</p> <p> + Nợ của ng&acirc;n s&aacute;ch địa phương vay từ ng&acirc;n h&agrave;nh ch&iacute;nh s&aacute;ch của Nh&agrave; nước, quỹ dự trữ t&agrave;i ch&iacute;nh cấp tỉnh, ng&acirc;n quỹ nh&agrave; nước v&agrave; vay kh&aacute;c theo quy định của ph&aacute;p luật về ng&acirc;n s&aacute;ch Nh&agrave; nước.</p> <p> C&aacute;c h&igrave;nh thức vay nợ của ch&iacute;nh phủ</p> <p> C&oacute; hai h&igrave;nh thức vay nợ phổ biến hiện nay :</p> <p> + Ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ</p> <p> + Vay tiền trực tiếp từ nh&acirc;n h&agrave;ng thương mại, c&aacute;c thể chế si&ecirc;u quốc gia</p> <p> - Ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ : H&igrave;nh thức n&agrave;y được quy định cụ thể ở Nghị định 01/2011/NĐ-CP về ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu Ch&iacute;nh phủ, tr&aacute;i phiếu được Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh v&agrave; tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh quyền địa phương. Ch&iacute;nh phủ c&oacute; thể ph&aacute;t h&agrave;nh Tr&aacute;i phiếu Ch&iacute;nh phủ để vay từ c&aacute;c tổ chức, c&aacute; nh&acirc;n. Ngo&agrave;i phương thức ph&aacute;t h&agrave;nh trực tiếp qua hệ thống kho bạc nh&agrave; nước th&igrave; tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định 01/2011 c&oacute; quy định tr&aacute;i phiếu Ch&iacute;nh phủ c&oacute; thể được ph&aacute;t h&agrave;nh th&ocirc;ng qua c&aacute;c h&igrave;nh thức như : Đấu thầu tr&aacute;i phiếu Ch&iacute;nh phủ qua thị trường chứng kho&aacute;n; Ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu Ch&iacute;nh phủ dưới h&igrave;nh thức đại l&yacute; ph&aacute;t h&agrave;nh; Ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu Ch&iacute;nh phủ dưới h&igrave;nh thức bảo l&atilde;nh, b&aacute;n lẻ tr&aacute;i phiếu. Ngo&agrave;i việc ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu để vay trong nước ra th&igrave; Ch&iacute;nh phủ c&ograve;n c&oacute; thể vay nước ngo&agrave;i th&ocirc;ng qua việc ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu Quốc tế của Ch&iacute;nh phủ. Tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ ph&aacute;t h&agrave;nh bằng nội tệ được coi l&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; rủi ro t&iacute;n dụng v&igrave; Ch&iacute;nh phủ c&oacute; thể tăng thuế thậm ch&iacute; in th&ecirc;m tiền để thanh to&aacute;n cả gốc lẫn l&atilde;i khi đ&aacute;o hạn. Tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ ph&aacute;t h&agrave;nh bằng ngoại tệ (thường l&agrave; c&aacute;c ngoại tệ mạnh c&oacute; cầu lớn) c&oacute; rủi ro t&iacute;n dụng cao hơn so với khi ph&aacute;t h&agrave;nh bằng nội tệ v&igrave; ch&iacute;nh phủ c&oacute; thể kh&ocirc;ng c&oacute; đủ ngoại tệ để thanh to&aacute;n v&agrave; ngo&agrave;i ra c&ograve;n c&oacute; rủi ro về tỷ gi&aacute; hối đo&aacute;i.</p> <p> - Vay trực tiếp : l&agrave; việc Ch&iacute;nh phủ&nbsp; vay tiền trực tiếp từ c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng thương mại, c&aacute;c thể chế si&ecirc;u quốc gia (v&iacute; dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế)&hellip; Việc vay n&agrave;y th&ocirc;ng qua c&aacute;c thỏa thuận vay được thực hiện đối với vay ODA, vốn vay kh&ocirc;ng điều kiện ODA,&hellip;(Khoản 3 Điều 21 Luật Quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng). H&igrave;nh thức n&agrave;y thường được Ch&iacute;nh phủ của c&aacute;c nước c&oacute; độ tin cậy t&iacute;n dụng thấp &aacute;p dụng v&igrave; khi đ&oacute; khả năng vay nợ bằng h&igrave;nh thức ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ của họ kh&ocirc;ng cao.</p> <p> <strong><em>C&aacute;c vấn đề gặp phải khi t&iacute;nh to&aacute;n nợ c&ocirc;ng</em></strong></p> <p> - Lạm ph&aacute;t : Chỉ ti&ecirc;u th&acirc;m hụt ng&acirc;n s&aacute;ch khi t&iacute;nh to&aacute;n thường kh&ocirc;ng điều chỉnh ảnh hưởng của lạm ph&aacute;t v&igrave; trong t&iacute;nh to&aacute;n chi ti&ecirc;u của ch&iacute;nh phủ, người ta t&iacute;nh to&aacute;n c&aacute;c khoản trả l&atilde;i vay theo l&atilde;i suất danh nghĩa trong khi đ&aacute;ng lẽ chỉ ti&ecirc;u n&agrave;y chỉ n&ecirc;n t&iacute;nh theo l&atilde;i suất thực tế. Do l&atilde;i suất danh nghĩa bằng l&atilde;i suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm ph&aacute;t, n&ecirc;n th&acirc;m hụt ng&acirc;n s&aacute;ch đ&atilde; bị ph&oacute;ng đại. Trong những thời kỳ lạm ph&aacute;t ở mức cao v&agrave; nợ ch&iacute;nh phủ lớn th&igrave; ảnh hưởng của yếu tố n&agrave;y rất lớn.</p> <p> - T&agrave;i sản đầu tư : Nhiều nh&agrave; kinh tế cho rằng t&iacute;nh to&aacute;n nợ ch&iacute;nh phủ cần phải trừ đi tổng gi&aacute; trị của t&agrave;i sản ch&iacute;nh phủ. Điều n&agrave;y cũng đơn giản như khi xử l&yacute; t&agrave;i sản của c&aacute; nh&acirc;n: khi một c&aacute; nh&acirc;n vay tiền để mua nh&agrave; th&igrave; kh&ocirc;ng thể t&iacute;nh anh ta đ&atilde; th&acirc;m hụt ng&acirc;n s&aacute;ch bằng số tiền đ&atilde; vay m&agrave; phải trừ đi gi&aacute; trị của căn nh&agrave;. Tuy nhi&ecirc;n khi t&iacute;nh to&aacute;n theo phương ph&aacute;p n&agrave;y lại gặp phải vấn đề những g&igrave; n&ecirc;n coi l&agrave; t&agrave;i sản của ch&iacute;nh phủ v&agrave; t&iacute;nh to&aacute;n gi&aacute; trị của ch&uacute;ng như thế n&agrave;o, v&iacute; dụ: đường quốc lộ, kho vũ kh&iacute; hay chi ti&ecirc;u cho gi&aacute;o dục...</p> <p> - C&aacute;c khoản nợ tiềm t&agrave;ng : Nhiều nh&agrave; kinh tế lập luận rằng t&iacute;nh to&aacute;n nợ ch&iacute;nh phủ đ&atilde; bỏ qua c&aacute;c khoản nợ tiềm t&agrave;ng như tiền trợ cấp hưu tr&iacute;, c&aacute;c khoản bảo hiểm x&atilde; hội m&agrave; ch&iacute;nh phủ sẽ phải chi trả cho người lao động hay c&aacute;c khoản m&agrave; ch&iacute;nh phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo đảm cho c&aacute;c khoản vay của người c&oacute; thu nhập thấp m&agrave; trong tương lai họ kh&ocirc;ng c&oacute; khả năng thanh to&aacute;n.</p> <p> <strong><em>T&aacute;c động của nợ c&ocirc;ng</em></strong></p> <p> - Về t&iacute;nh trung lập của nợ ch&iacute;nh phủ.</p> <p> + Quan điểm truyền thống cho rằng biện ph&aacute;p cắt giảm thuế được b&ugrave; đắp bằng nợ ch&iacute;nh phủ k&iacute;ch th&iacute;ch ti&ecirc;u d&ugrave;ng v&agrave; l&agrave;m giảm tiết kiệm quốc d&acirc;n. Sự gia tăng ti&ecirc;u d&ugrave;ng l&agrave;m tăng tổng cầu v&agrave; thu nhập quốc d&acirc;n trong ngắn hạn nhưng dẫn đến khối lượng tư bản &iacute;t hơn (do đầu tư giảm) v&agrave; thu nhập quốc d&acirc;n thấp hơn trong d&agrave;i hạn.</p> <p> + Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện ph&aacute;p cắt giảm thuế được b&ugrave; đắp bằng nợ ch&iacute;nh phủ kh&ocirc;ng k&iacute;ch th&iacute;ch chi ti&ecirc;u ngay cả trong ngắn hạn v&igrave; kh&ocirc;ng l&agrave;m tăng thu nhập thường xuy&ecirc;n của c&aacute;c c&aacute; nh&acirc;n m&agrave; n&oacute; chỉ l&agrave;m dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai. C&aacute;c c&aacute; nh&acirc;n dự t&iacute;nh rằng, hiện giờ ch&iacute;nh phủ giảm thuế v&agrave; ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu b&ugrave; đắp th&acirc;m hụt, th&igrave; đến một thời điểm trong tương lai ch&iacute;nh phủ sẽ lại tăng thuế để c&oacute; tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (m&agrave; hậu quả l&agrave; lạm ph&aacute;t tăng tốc); do đ&oacute;, người ta tiết kiệm hiện tại để c&oacute; tiền đ&oacute;ng thuế trong tương lai hoặc mua h&agrave;ng h&oacute;a v&agrave; dịch vụ sẽ l&ecirc;n gi&aacute;.</p> <p> Hai quan điểm n&oacute;i tr&ecirc;n tuy kh&aacute;c nhau nhưng c&ugrave;ng xuất ph&aacute;t từ h&agrave;nh vi của người ti&ecirc;u d&ugrave;ng v&agrave; do vậy khi &aacute;p dụng cần nghi&ecirc;n cứu h&agrave;nh vi của người ti&ecirc;u d&ugrave;ng.</p> <p> -Về hiệu suất của t&aacute;c động từ nợ ch&iacute;nh phủ tới tăng trưởng kinh tế : Trong những năm gần đ&acirc;y, hầu hết c&aacute;c nh&agrave; kinh tế đều cho rằng trong d&agrave;i hạn một khoản nợ ch&iacute;nh phủ lớn (tỷ lệ của n&oacute; so với GDP cao) l&agrave;m cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại v&igrave; những l&yacute; do sau:</p> <p> + Nếu một quốc gia c&oacute; nợ nước ngo&agrave;i lớn th&igrave; quốc gia đ&oacute; buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngo&agrave;i v&agrave; do đ&oacute; khả năng ti&ecirc;u d&ugrave;ng giảm s&uacute;t.</p> <p> + Một khoản nợ c&ocirc;ng cộng lớn g&acirc;y ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nh&acirc;n: thay v&igrave; sở hữu cổ phiếu, tr&aacute;i phiếu c&ocirc;ng ty, d&acirc;n ch&uacute;ng sở hữu nợ ch&iacute;nh phủ (tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ). Điều n&agrave;y l&agrave;m cho cung về vốn cạn kiệt v&igrave; tiết kiệm của d&acirc;n cư đ&atilde; chuyển th&agrave;nh nợ ch&iacute;nh phủ dẫn đến l&atilde;i suất tăng v&agrave; c&aacute;c doanh nghiệp hạn chế đầu tư.</p> <p> + Nợ trong nước tuy được coi l&agrave; &iacute;t t&aacute;c động hơn v&igrave; tr&ecirc;n g&oacute;c độ nền kinh tế l&agrave; một tổng thể th&igrave; ch&iacute;nh phủ chỉ nợ c&ocirc;ng d&acirc;n của ch&iacute;nh nước m&igrave;nh, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn th&igrave; ch&iacute;nh phủ buộc phải tăng thuế để trả l&atilde;i nợ vay. Thuế l&agrave;m m&eacute;o m&oacute; nền kinh tế, g&acirc;y ra tổn thất v&ocirc; &iacute;ch về ph&uacute;c lợi x&atilde; hội.</p> <p> + Ngo&agrave;i ra, c&ograve;n c&oacute; một số quan điểm cho rằng việc ch&iacute;nh phủ sử dụng c&ocirc;ng cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ m&ocirc; sẽ kh&ocirc;ng c&oacute; hiệu suất cao v&igrave; c&oacute; hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi ti&ecirc;u của ch&iacute;nh phủ tăng l&ecirc;n).</p> <p> + Ch&iacute;nh phủ muốn tăng chi ti&ecirc;u c&ocirc;ng cộng để k&iacute;ch cầu th&igrave; ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ. Ph&aacute;t h&agrave;nh th&ecirc;m tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ th&igrave; gi&aacute; tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ giảm, thể hiện qua việc ch&iacute;nh phủ phải n&acirc;ng l&atilde;i suất tr&aacute;i phiếu th&igrave; mới huy động được người mua. L&atilde;i suất tr&aacute;i phiếu tăng th&igrave; l&atilde;i suất chung của nền kinh tế cũng tăng. Điều n&agrave;y t&aacute;c động ti&ecirc;u cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nh&acirc;n, khiến họ giảm đầu tư. N&oacute; c&ograve;n t&aacute;c động t&iacute;ch cực đến động cơ tiết kiệm của người ti&ecirc;u d&ugrave;ng, dẫn tới giảm ti&ecirc;u d&ugrave;ng. N&oacute; c&ograve;n l&agrave;m cho l&atilde;i suất trong nước tăng tương đối so với l&atilde;i suất nước ngo&agrave;i, dẫn tới luồng tiền từ nước ngo&agrave;i đổ v&agrave;o trong nước khiến cho tỷ gi&aacute; hối đo&aacute;i tăng l&agrave;m giảm xuất khẩu r&ograve;ng. T&oacute;m lại, ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu tuy c&oacute; l&agrave;m tăng tổng cầu, song mức tăng kh&ocirc;ng lớn v&igrave; c&oacute; những t&aacute;c động phụ l&agrave;m giảm tổng cầu.</p> <p> + Nếu coi việc nắm giữ tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ l&agrave; một h&igrave;nh thức nắm giữ t&agrave;i sản th&igrave; khi ch&iacute;nh phủ tăng ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu sẽ đồng thời phải tăng l&atilde;i suất, người nắm giữ t&agrave;i sản thấy m&igrave;nh trở n&ecirc;n gi&agrave;u c&oacute; hơn v&agrave; ti&ecirc;u d&ugrave;ng nhiều hơn. Tổng cầu nhận được t&aacute;c động t&iacute;ch cực từ việc tăng chi ti&ecirc;u ch&iacute;nh phủ (nhờ ph&aacute;t h&agrave;nh c&ocirc;ng tr&aacute;i) v&agrave; tăng ti&ecirc;u d&ugrave;ng n&oacute;i tr&ecirc;n. Tuy nhi&ecirc;n, tăng ti&ecirc;u d&ugrave;ng dẫn tới tăng lượng cầu tiền. Điều n&agrave;y g&acirc;y ra &aacute;p lực lạm ph&aacute;t, v&igrave; thế t&aacute;c động ti&ecirc;u cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm ph&aacute;t).</p> <p> <strong><em>T&igrave;nh h&igrave;nh c&ocirc;ng nợ tr&ecirc;n thế giới</em></strong></p> <p> <em>To&agrave;n cảnh nợ c&ocirc;ng thế giới</em></p> <p> Theo cập nhật mới nhất từ Cơ sở Dữ liệu Nợ To&agrave;n cầu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng nợ ch&iacute;nh phủ tr&ecirc;n to&agrave;n cầu trong năm 2017 chạm mức hơn 63.000 tỷ USD. D&ugrave; tăng trưởng kinh tế v&agrave; l&atilde;i suất thấp kỷ lục gi&uacute;p c&aacute;c ch&iacute;nh phủ dễ trả nợ hơn, nhưng nợ c&ocirc;ng vẫn lu&ocirc;n l&agrave; vấn đề khiến c&aacute;c thị trường tr&ecirc;n to&agrave;n cầu quan ngại.</p> <p> Trong 50 năm qua, thế giới đ&atilde; chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ nợ c&ocirc;ng của c&aacute;c nước, đặc biệt l&agrave; c&aacute;c khoản nợ nước ngo&agrave;i m&agrave; nguy&ecirc;n nh&acirc;n ch&iacute;nh l&agrave; để bắt kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của thế giới, nhiều nước buộc phải vay nợ nước ngo&agrave;i để ph&aacute;t triển kinh tế. Tuy nhi&ecirc;n, nợ c&ocirc;ng l&agrave; một trong những nguy&ecirc;n nh&acirc;n đ&aacute;ng kể dẫn đến t&igrave;nh trạng đ&oacute;i ngh&egrave;o to&agrave;n cầu. C&aacute;c khoản vay l&atilde;i suất lớn c&oacute; thể khiến một quốc gia th&ecirc;m ngh&egrave;o kh&oacute; do họ phải tr&iacute;ch một lượng tiền lớn từ GDP để trả nợ, thay v&igrave; d&ugrave;ng số tiền đ&oacute; để đầu tư x&acirc;y dựng cơ sở hạ tầng.</p> <p> Nhật Bản, Hy Lạp, Lebanon l&agrave; 3 nước c&oacute; nợ c&ocirc;ng tr&ecirc;n GDP cao nhất thế giới. Ở chiều ngược lại, Hồng K&ocirc;ng, Saudi Arabia, Nga nằm trong nh&oacute;m c&oacute; nợ c&ocirc;ng tr&ecirc;n GDP thấp nhất...</p> <p> Phạm vi nợ c&ocirc;ng của hầu hết c&aacute;c nước được nghi&ecirc;n cứu đều bao gồm nợ ch&iacute;nh phủ v&agrave; nợ được ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh. Ngo&agrave;i ra, một số nước c&ograve;n quy định phạm vi nợ c&ocirc;ng bao gồm cả nợ ch&iacute;nh quyền địa phương, một số nước kh&ocirc;ng t&iacute;nh nợ của ng&acirc;n h&agrave;ng nh&agrave; nước, nợ của c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng thương mại nh&agrave; nước v&agrave; nợ của c&aacute;c định chế t&agrave;i ch&iacute;nh kh&aacute;c v&agrave;o phạm vi nợ c&ocirc;ng v&agrave; nhiều nước cũng c&oacute; những c&aacute;ch t&iacute;nh kh&aacute;c nhau. Nợ c&ocirc;ng phản &aacute;nh v&agrave; ảnh hưởng rất lớn đến khả năng t&agrave;i ch&iacute;nh của một nền kinh tế, v&igrave; thế việc đ&aacute;nh gi&aacute; nợ của một quốc gia c&oacute; an to&agrave;n hay kh&ocirc;ng trở n&ecirc;n v&ocirc; c&ugrave;ng cần thiết đối với c&aacute;c nh&agrave; đầu tư v&agrave; ch&iacute;nh phủ của quốc gia đ&oacute;. Việc x&aacute;c định c&aacute;c chỉ ti&ecirc;u an to&agrave;n về nợ c&ocirc;ng của từng nước thường được dựa tr&ecirc;n cơ sở đ&aacute;nh gi&aacute; thực trạng nợ, t&igrave;nh h&igrave;nh kinh tế vĩ m&ocirc;, ch&iacute;nh s&aacute;ch t&agrave;i kh&oacute;a, tiền tệ, nhu cầu về vốn đầu tư ph&aacute;t triển, hệ số t&iacute;n nhiệm của quốc gia v&agrave; c&aacute;c khuyến nghị của IMF v&agrave; WB. Khi n&oacute;i về ngưỡng an to&agrave;n cho nợ c&ocirc;ng (UNDP), IMF v&agrave; WB đều nhấn mạnh kh&ocirc;ng n&ecirc;n dựa qu&aacute; nhiều v&agrave;o ngưỡng nợ. Tại c&aacute;c nước Khu vực đồng tiền chung ch&acirc;u &Acirc;u th&igrave; lại quy định hạn mức trần nợ c&ocirc;ng &aacute;p dụng chung cho tất cả c&aacute;c nước trong khối l&agrave; dưới 60% GDP, th&acirc;m hụt ng&acirc;n s&aacute;ch dưới 3% GDP. Anh Quốc đ&atilde; vận h&agrave;nh hai quy tắc t&agrave;i kh&oacute;a trong những năm gần đ&acirc;y. Quy tắc thứ nhất y&ecirc;u cầu trong một chu kỳ &ldquo;Ch&iacute;nh phủ chỉ được ph&eacute;p vay để đầu tư chứ kh&ocirc;ng vay để chi thường xuy&ecirc;n&rdquo;. Quy tắc thứ hai y&ecirc;u cầu &ldquo;Nợ r&ograve;ng khu vực c&ocirc;ng theo tỷ lệ với GDP cần phải giữ ổn định ở mức cẩn trọng - hiện nay được x&aacute;c định l&agrave; dưới 40% GDP&rdquo;.</p> <p> <em>Nợ c&ocirc;ng ở c&aacute;c nước ch&acirc;u &Acirc;u</em></p> <p> Theo thống k&ecirc; tới cuối năm 2016, mỗi người d&acirc;n thuộc khu vực Eurozone g&aacute;nh tr&ecirc;n vai gần 92 triệu đồng (3,5 triệu EUR) tiền nợ c&ocirc;ng v&agrave; con số n&agrave;y tăng l&ecirc;n sau mỗi gi&acirc;y khi m&agrave; đầu tư c&ocirc;ng v&agrave; c&aacute;c khoản l&atilde;i phải trả gia tăng với tốc độ gấp đ&ocirc;i so với sự gia tăng về d&acirc;n số. Hiện nay, nợ c&ocirc;ng đang trở th&agrave;nh vấn đề n&oacute;ng bỏng đối với nhiều quốc gia, nợ c&ocirc;ng của c&aacute;c nước thuộc Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u (EU) gần 95% GDP, nguy cơ vỡ nợ rất cao. D&ugrave; gần đ&acirc;y c&oacute; v&agrave;i t&iacute;n hiệu t&iacute;ch cực cho thấy Ch&iacute;nh phủ đang tiến h&agrave;nh cắt giảm đầu tư c&ocirc;ng v&agrave; giảm bội chi ng&acirc;n s&aacute;ch nhưng tỷ lệ nợ c&ocirc;ng tr&ecirc;n GDP của khối EU vẫn tiếp tục tăng l&ecirc;n trong khi kinh tế th&igrave; tăng trưởng dường như chững lại v&agrave; c&ograve;n suy giảm.Nợ c&ocirc;ng của ch&acirc;u &Acirc;u tăng dần đều qua c&aacute;c năm, số liệu c&aacute;c năm được lấy từ &ldquo;đồng hồ nợ c&ocirc;ng&rdquo; của thế giới thể hiện qua biểu đồ sau:</p> <p> <img align="left" alt="http://tapchicongthuong.vn/images/Uploaded/Share/2017/12/07/nguyen-trung-kien-2.png" height="125" hspace="12" src="file:////Users/dovantinh/Library/Group%20Containers/UBF8T346G9.Office/TemporaryItems/msohtmlclip/clip_image002.jpg" width="353" /></p> <p> &nbsp;</p> <p> &nbsp;</p> <p> &nbsp;</p> <p> &nbsp;</p> <p> &nbsp;</p> <p> &nbsp;</p> <p> &nbsp;</p> <p> Từ bảng số liệu tr&ecirc;n nhận thấy nợ c&ocirc;ng năm 2016 đạt 90,3% GDP v&agrave; dự b&aacute;o đến hết năm 2017 l&agrave; 92% GDP. Nợ c&ocirc;ng trong những năm qua ng&agrave;y c&agrave;ng tăng cao. Thực tế, mức nợ c&ocirc;ng của ch&acirc;u &Acirc;u đ&atilde; vượt qu&aacute; xa so với ti&ecirc;u chuẩn của khối đề ra. Kh&ocirc;ng chỉ vậy, ch&acirc;u &Acirc;u phải t&iacute;nh tới c&aacute;c khoản nợ ngầm bao gồm: c&aacute;c khoản nợ ng&acirc;n h&agrave;ng, tiền trợ cấp hưu tr&iacute;, c&aacute;c khoản bảo hiểm x&atilde; hội, an sinh x&atilde; hội, trợ cấp gi&aacute;o dục m&agrave; Ch&iacute;nh phủ sẽ phải chi trả cho người lao động hay c&aacute;c khoản m&agrave; Ch&iacute;nh phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo l&atilde;nh c&aacute;c khoản vay cho những người c&oacute; thu nhập thấp m&agrave; trong tương lai họ kh&ocirc;ng c&oacute; khả năng thanh to&aacute;n: lương hưu tăng, c&oacute; nguy cơ vỡ quỹ an sinh x&atilde; hội, trợ cấp x&atilde; hội,&hellip; Đ&acirc;y l&agrave; yếu tố tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất.</p> <p> Những th&aacute;ch thức về nợ c&ocirc;ng hiện nay cho thấy đ&atilde; đến l&uacute;c cần c&oacute; một cuộc cải c&aacute;ch t&agrave;i kh&oacute;a triệt để v&agrave; to&agrave;n diện nhằm đưa ng&acirc;n s&aacute;ch dần trở về trạng th&aacute;i c&acirc;n bằng nhằm bảo đảm t&iacute;nh bền vững của nợ c&ocirc;ng v&agrave; duy tr&igrave; sự ổn định l&acirc;u d&agrave;i cho nền kinh tế. Vậy để c&oacute; thể đưa ra được c&aacute;c giải ph&aacute;p ch&iacute;nh s&aacute;ch khả thi, cần phải đ&aacute;nh gi&aacute; to&agrave;n diện thực trạng như đ&atilde; tr&igrave;nh b&agrave;y ở tr&ecirc;n v&agrave; những khiếm khuyết trong cơ chế quản l&yacute; ch&iacute;nh s&aacute;ch của EU.</p> <p> <em>Nợ c&ocirc;ng c&aacute;c nước ch&acirc;u &Aacute; v&agrave; khu vực</em></p> <p> Giới đầu tư bắt đầu tỏ r&otilde; sự lo ngại cho hệ thống t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Aacute;, khi Cục Dự trữ Li&ecirc;n bang Mỹ (Fed) gần đ&acirc;y c&oacute; những động th&aacute;i thắt chặt ch&iacute;nh s&aacute;ch tiền tệ.</p> <p> Với việc l&atilde;i suất USD tăng, c&aacute;c doanh nghiệp v&agrave; quốc gia ch&acirc;u &Aacute; sẽ phải thanh to&aacute;n nhiều hơn cho khoản nợ bằng ngoại tệ của m&igrave;nh. Th&ecirc;m v&agrave;o đ&oacute;, Fed thắt chặt ch&iacute;nh s&aacute;ch tiền tệ sẽ l&agrave;m cho USD tiếp tục tăng gi&aacute;, khiến nhiều nước c&agrave;ng gặp kh&oacute; để thanh to&aacute;n c&aacute;c khoản nợ nước ngo&agrave;i. H&atilde;ng S&amp;P Global Ratings ước t&iacute;nh, trong gần 1 ngh&igrave;n tỷ USD nợ doanh nghiệp tại ch&acirc;u &Aacute; đến hạn thanh to&aacute;n v&agrave;o năm 2021, c&oacute; 63% l&agrave; nợ phải trả bằng USD v&agrave; 7% bằng Euro.</p> <p> Đ&aacute;ng lo ngại nhất vẫn l&agrave; Trung Quốc với khoản nợ 258% GDP, cao hơn rất nhiều so với mức 158% GDP năm 2005. Phần lớn c&aacute;c khoản nợ l&agrave; từ những tập đo&agrave;n quốc doanh khổng lồ hoạt động kh&ocirc;ng mấy hiệu quả.</p> <p> H&agrave;n Quốc l&agrave; nỗi lo thứ hai. Sau nhiều năm tăng trưởng nhờ l&atilde;i suất thấp v&agrave; b&ugrave;ng nổ thị trường bất động sản, hiện quốc gia n&agrave;y đang ngập trong nợ đọng cũng như nhiều vấn đề kinh tế, địa ch&iacute;nh trị. Khoản nợ hộ gia đ&igrave;nh kỷ lục 1,2 ngh&igrave;n tỷ USD tại H&agrave;n Quốc đ&atilde; khiến thị trường ti&ecirc;u d&ugrave;ng tại đ&acirc;y bị ảnh hưởng v&agrave; ch&iacute;nh quyền Seoul lo ngại việc Fed n&acirc;ng l&atilde;i suất sẽ khiến mức l&atilde;i cho vay trong nước tăng theo,&nbsp; ảnh hưởng đến đầu tư, ti&ecirc;u d&ugrave;ng nội địa.</p> <p> Nhật Bản cũng đ&atilde; vay nợ kh&ocirc;ng &iacute;t, tương đương khoảng 450% GDP. Ri&ecirc;ng số nợ c&ocirc;ng của nước n&agrave;y đ&atilde; đạt tới hơn 250% GDP. Tuy nhi&ecirc;n, rủi ro vỡ nợ của Nhật Bản kh&ocirc;ng cao, nhờ việc đầu tư lớn ra nước ngo&agrave;i cũng như phần lớn c&aacute;c khoản nợ bằng nội tệ (Y&ecirc;n).</p> <p> <strong>T&Igrave;NH H&Igrave;NH QUẢN L&Yacute; NỢ C&Ocirc;NG Ở VIỆT NAM</strong></p> <p> <strong><em>Thực trạng nợ c&ocirc;ng v&agrave; quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam</em></strong></p> <p> <em>Thực trạng nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam</em></p> <p> Trong giai đoạn từ 2006 - 2012, xu hướng vốn vay nợ c&ocirc;ng tăng: năm 2006 l&agrave; 91.757 tỷ đồng (22,7%) đến năm 2012 l&agrave; 989.300 tỷ đồng (41,1%); ri&ecirc;ng năm 2008, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế n&ecirc;n nợ c&ocirc;ng xuống thấp (23,7%). Đa phần vốn vay nợ c&ocirc;ng chiếm một tỷ lệ rất quan trọng trong vốn vay đầu tư ph&aacute;t triển.</p> <p> Về ph&acirc;n bổ, sử dụng vốn vay: thứ nhất, ch&uacute;ng ta vay để b&ugrave; đắp bội chi ng&acirc;n s&aacute;ch. Tỷ lệ b&igrave;nh qu&acirc;n bội chi ng&acirc;n s&aacute;ch t&iacute;nh cả giai đoạn 2006 - 2012 l&agrave; 5%. Thứ hai, vay để đầu tư từ TPCP cho y tế, gi&aacute;o dục, giao th&ocirc;ng, thủy lợi... Thứ ba, vay để cho vay lại, chủ yếu đối với c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh trọng điểm quốc gia đang cần huy động vốn; trong đ&oacute; nguồn vay n&agrave;y chủ yếu từ nguồn vốn ODA.</p> <p> Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ&nbsp; c&ocirc;ng giai đoạn 2006 - 2012: Con số trả nợ cho Ch&iacute;nh phủ l&agrave; rất cao (từ 42.440 tỷ đồng/2006 - 108.186 tỷ đồng/2012). Tỷ lệ b&igrave;nh qu&acirc;n trả nợ Ch&iacute;nh phủ, thu NSNN chiếm khoảng 15%.</p> <p> Về thực trạng nợ c&ocirc;ng giai đoạn 2006 - 2012: nếu t&iacute;nh chỉ số nợ c&ocirc;ng/ GDP th&igrave; giai đoạn 2006 &mdash; 2012 nợ c&ocirc;ng đ&atilde; tăng đ&aacute;ng kề, từ 41,5% (404.556 tỷ đồng) năm 2006 l&ecirc;n 55,6% (1.641.296 tỷ đồng) năm 2012.</p> <p> Về cơ cấu dư nợ c&ocirc;ng: t&iacute;nh đến 31/12/2012 th&igrave; nợ Ch&iacute;nh phủ chiếm 77,6%, nợ Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh chiếm 20,9% v&agrave; nợ ch&iacute;nh quyền địa phương chiếm 1,5%.</p> <p> Nếu cơ cấu dư nợ c&ocirc;ng chia theo chủ nợ: nợ c&ocirc;ng ở nước ta chủ yếu được vay bằng Việt Nam đồng, đồng y&ecirc;n, đồng đ&ocirc; la, điều n&agrave;y cũng đồng nghĩa với việc rủi ro về tỷ gi&aacute;, l&atilde;i suất. Vay nước ngo&agrave;i lớn nhất chủ yếu l&agrave; vay Nhật Bản 17%; thứ hai l&agrave; vay World Bank (WB) th&ocirc;ng qua nguồn vốn đặc biệt 13%; thứ ba l&agrave; vay của Ng&acirc;n h&agrave;ng ph&aacute;t triển Ch&acirc;u &Aacute; (ADB) 8%. Vay trong nước th&igrave; chủ yếu l&agrave; đầu tư tr&aacute;i phiếu 28%, bảo hiểm x&atilde; hội 5%, vay tạm ứng tồn ng&acirc;n kho bạc 9%, vay kh&aacute;c l&agrave; 20%. Như vậy, cơ cấu dư nợ c&ocirc;ng chia theo chủ nợ th&igrave; sẽ li&ecirc;n quan nhiều tới tỷ gi&aacute;, l&atilde;i suất.</p> <p> Nợ c&ocirc;ng nh&igrave;n dưới g&oacute;c độ chỉ số t&iacute;n nhiệm quốc gia: Nợ c&ocirc;ng của Việt Nam bắt đầu tham gia v&agrave;o bảng xếp hạng t&iacute;n nhiệm quốc gia từ năm 2005. Giai đoạn 2005 - 2007, ch&uacute;ng ta đ&atilde; thăng hạng, từ 2007 - 2011 đi xuống v&agrave; năm 2011 - 2012 lại đi l&ecirc;n. Chỉ số xếp hạng quốc gia đ&aacute;nh gi&aacute; thực trạng khả năng trả nợ quốc gia v&agrave; đ&aacute;nh gi&aacute; mức độ uy t&iacute;n quốc gia. Nếu được xếp hạng cao, ch&uacute;ng ta sẽ đi vay tr&ecirc;n thị trường quốc tế với l&atilde;i suất v&agrave; chi ph&iacute; thấp hơn. Mức nợ c&ocirc;ng của Việt Nam hiện nay theo đ&aacute;nh gi&aacute; của c&aacute;c tổ chức Moody&rsquo;s, S&amp;P, Fitch đều ở mức ổn định. Nếu so s&aacute;nh với c&aacute;c nước trong khu vực như Indonesia, Philippin, M&ocirc;ng Cổ, Sri Lanka, th&igrave; chỉ số t&iacute;n nhiệm của ch&uacute;ng ta cao hơn.</p> <p> Trong c&aacute;c giai đoạn gần đ&acirc;y, nợ c&ocirc;ng của Việt Nam chiếm khoảng 65% GDP. Theo b&aacute;o c&aacute;o của Bộ t&agrave;i ch&iacute;nh, nợ c&ocirc;ng của Việt Nam đạt 61% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tại thời điểm th&aacute;ng 9/2016 v&agrave; con số n&agrave;y tăng l&ecirc;n xấp xỉ 65% v&agrave;o thời điểm 2017-2018. Theo c&aacute;c chuy&ecirc;n gia, Ch&iacute;nh phủ h&agrave;ng năm phải chi trả 14% tổng nợ Chinh phủ vay v&agrave; nợ Chinh phủ bảo l&atilde;nh. Việt Nam đang loay hoay trong vay vốn để ph&aacute;t triển v&agrave; v&igrave; sử dụng vốn chưa hiệu quả n&ecirc;n trở th&agrave;nh một trong số c&aacute;c nước c&oacute; tỷ l&ecirc; nợ c&ocirc;ng tăng nhanh nhất. Nhưng nếu kh&ocirc;ng tiếp tục vay th&igrave; cũng kh&ocirc;ng c&oacute; vốn để phục vụ ph&aacute;t triển v&agrave; để trả nợ. Theo dự đo&aacute;n trong thời gian tới, Việt Nam cần huy động 39,5 tỷ đ&ocirc; la Mỹ để đầu tư ph&aacute;t triển đến năm 2020.</p> <p> Nợ c&ocirc;ng tăng trưởng một c&aacute;ch nhanh ch&oacute;ng. Tốc độ tăng nợ c&ocirc;ng tăng của nợ c&ocirc;ng gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng của GDP. Năm 2017, vay đảo nợ l&ecirc;n đến 95.000 tỷ đồng. Con số n&agrave;y cho thấy g&aacute;nh nặng nợ c&ocirc;ng đang tăng cao. Cứ 3 th&aacute;ng 1 lần, Việt Nam trả nợ c&ocirc;ng gồm cả gốc v&agrave; l&atilde;i với số tiền khoảng 25 ngh&igrave;n tỷ đồng, xấp xỉ khoảng 1 tỷ đ&ocirc; la Mỹ. Nếu kh&ocirc;ng giải quyết nhanh ch&oacute;ng v&agrave; hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến t&agrave;i ch&iacute;nh quốc gia, ổn định vĩ m&ocirc;. Năm 2016, nợ c&ocirc;ng đến hạn của Việt Nam l&agrave; 280.000 tỷ đồng, nhưng chỉ trả được 150.000 tỷ đồng v&agrave; phải vay th&ecirc;m 130.000 tỷ đồng, xấp xỉ 6 tỷ đ&ocirc; la Mỹ nhưng chỉ trả được 150.000 tỷ đồng v&agrave; phải vay th&ecirc;m 130.000 tỷ đồng, xấp xỉ 6 tỷ đ&ocirc; la Mỹ để đảo nợ.</p> <p align="center"> <img alt="http://tapchicongthuong.vn/images/Uploaded/Share/2018/06/28/Thanh-Hoa-1.jpg" height="98" src="file:////Users/dovantinh/Library/Group%20Containers/UBF8T346G9.Office/TemporaryItems/msohtmlclip/clip_image003.jpg" width="353" /></p> <p> Theo th&ocirc;ng tin từ Bộ T&agrave;i ch&iacute;nh, thu nhập trung b&igrave;nh của người lao động Việt Nam l&agrave; 2.200 USD/người/năm. Theo quy định, con số tr&ecirc;n đ&atilde; cho thấy Việt Nam đ&atilde; tho&aacute;t khỏi nh&oacute;m c&aacute;c nước ngh&egrave;o v&agrave; l&agrave; nước c&oacute; thu nhập trung b&igrave;nh. V&igrave; vậy, c&aacute;c khoản vay với ưu đ&atilde;i về l&atilde;i suất v&agrave; thời hạn sẽ kh&ocirc;ng c&ograve;n nữa m&agrave; ch&uacute;ng ta phải vay c&aacute;c khoản với l&atilde;i suất cao hơn v&agrave; thời hạn cũng ngắn hơn. Điều n&agrave;y chỉ ra rằng, nếu Việt Nam vay th&igrave; cần đầu tư một c&aacute;ch hiệu quả đồng vốn, tạo l&atilde;i th&igrave; mới tạo l&atilde;i th&igrave; mới giảm được &aacute;p lực từ nợ c&ocirc;ng. Như đ&atilde; biết về điều khoản vay vốn, &ldquo;l&atilde;i mẹ đẻ l&atilde;i con&rdquo; l&agrave; ch&iacute;nh s&aacute;ch &aacute;p dụng t&iacute;nh l&atilde;i suất, n&ecirc;n mức độ l&atilde;i suất tăng l&ecirc;n nhanh ch&oacute;ng. Tr&ecirc;n thực tế, Việt Nam đ&atilde; phải b&aacute;n tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ trong nước với l&atilde;i suất cao, khoảng 8 đến 9%/năm, nhưng chỉ đủ trả l&atilde;i của nợ cũ v&agrave; trả được một phần của vốn vay. Ch&iacute;nh v&igrave; vậy, nợ mới v&agrave; nợ cũ tăng nhanh dẫn đến nợ c&ocirc;ng tăng nhanh.</p> <p> Thực trạng hiện tại t&aacute;c động ti&ecirc;u cực v&agrave; g&acirc;y nhiều hệ luy cho nền kinh tế - x&atilde; hội. Nợ c&ocirc;ng đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người d&acirc;n trong đất nước về mọi mặt: kinh tế, y tế, gi&aacute;o dục, ph&uacute;c lợi x&atilde; hội&hellip; Giả sử nếu tồn tại l&agrave; một quốc gia kh&ocirc;ng chịu ảnh hưởng của vay nợ trầm trọng, với GDP tăng trưởng th&igrave; Việt Nam c&oacute; lẽ ph&aacute;t triển hơn nhiều khi Nh&agrave; nước ch&uacute; trọng cho đầu tư chất lượng học tập, y tế, đời sống v&agrave; ph&uacute;c lợi x&atilde; hội... C&aacute;c hệ lụy đ&oacute; l&agrave;: Lạm ph&aacute;t tăng cao; Đồng tiền mất gi&aacute; v&agrave; hất nghiệp tăng cao, kinh tế k&eacute;m ph&aacute;t triển. Khi gặp kh&oacute; khăn, Nh&agrave; nước sẽ in th&ecirc;m tiền để ổn định một phần chi ti&ecirc;u. Điều n&agrave;y k&eacute;o theo lượng tiền trong lưu th&ocirc;ng tăng, đồng tiền mất gi&aacute;. Tăng thuế l&agrave; việc sớm muộn do thu nhập của Nh&agrave; nước phụ thuộc phần lớn v&agrave;o c&aacute;c khoản thu từ thuế. Điều n&agrave;y t&aacute;c động trực tiếp đến cuộc sống người d&acirc;n, khi tỷ lệ nợ c&ocirc;ng tăng, Ch&iacute;nh phủ ph&aacute;t h&agrave;nh tr&aacute;i phiếu Ch&iacute;nh phủ, cổ phiếu Ch&iacute;nh phủ v&agrave; khoản tiết kiệm trong d&acirc;n giảm dần. Khi khoản nợ qu&aacute; lớn, Ch&iacute;nh phủ buộc tăng thuế để trả nợ vay l&agrave;m tổn thất x&atilde; hội. Điều n&agrave;y tạo th&agrave;nh 1 v&ograve;ng luẩn quẩn kh&ocirc;ng tho&aacute;t được.</p> <p> C&oacute; một số nguy&ecirc;n nh&acirc;n g&acirc;y ra t&igrave;nh trạng nợ c&ocirc;ng tăng cao:</p> <p> Thứ nhất. Đầu tư ồ ạt. Đường x&aacute;, cầu đường được x&acirc;y dựng v&agrave; mở rộng, chi ph&iacute; được lấy từ ng&acirc;n s&aacute;ch nh&agrave; nước. M&agrave; ng&acirc;n s&aacute;ch n&agrave;y l&agrave; đi vay từ c&aacute;c tổ chức t&iacute;n dụng trong nước v&agrave; ngo&agrave;i nước. Theo thống k&ecirc;, x&acirc;y dựng đường x&aacute; mất khoảng 20 triệu USD/km. Trong khi theo t&iacute;nh to&aacute;n, đường x&aacute; sau khi được x&acirc;y dựng xong v&agrave; đi v&agrave;o sử dụng trong 2 năm đ&atilde; phải tu sửa. Tương tự, mới đ&acirc;y Việt Nam bỏ chi ph&iacute; x&acirc;y dựng tượng đ&agrave;i một c&aacute;ch phung ph&iacute; với chi ph&iacute; lớn. Với những chi ph&iacute; bất hợp l&iacute; như vậy, tỷ lệ nợ c&ocirc;ng của Việt Nam sẽ ng&agrave;y c&agrave;ng tăng nhanh.</p> <p> Ngo&agrave;i ra, c&aacute;c doanh nghiệp nh&agrave; nước l&agrave;m ăn k&eacute;m hiệu quả, thua lỗ n&ecirc;n Nh&agrave; nước c&ograve;n phải g&aacute;nh th&ecirc;m khoản nợ. Thực tế hiện nay, c&oacute; 12 dự &aacute;n đầu tư kh&ocirc;ng hiệu quả v&agrave; cần xử l&yacute; của Bộ C&ocirc;ng Thương. Bộ T&agrave;i ch&iacute;nh b&aacute;o c&aacute;o c&oacute; 72 dự &aacute;n đầu tư kh&aacute;c của doanh nghiệp nh&agrave; nước kh&ocirc;ng khả thi v&agrave; c&oacute; nhiều khả năng thua lỗ. Điều n&agrave;y đ&atilde; l&agrave;m tăng th&ecirc;m &aacute;p lực về g&aacute;nh nặng nợ c&ocirc;ng cho Ch&iacute;nh phủ.</p> <p> B&ecirc;n cạnh đ&oacute; l&agrave; c&aacute;c dự &aacute;n ph&aacute;t sinh tăng vốn.</p> <p> Thứ hai. C&oacute; hiện tượng tham nhũng, thất tho&aacute;t. L&atilde;i phải trả cho cho c&aacute;c khoản đi vay qu&aacute; lớn, trong khi phần lớn số vốn vay lại kh&ocirc;ng được sử dụng hiệu quả do nhiều l&yacute; do như tham nhũng, thất tho&aacute;t, chậm tiến độ... Điều đ&oacute; dẫn đến c&aacute;c khoản l&atilde;i ng&agrave;y c&agrave;ng trầm trọng. Trong chi ti&ecirc;u Ch&iacute;nh phủ, chi thường xuy&ecirc;n chiếm 71%, chi trả nợ chiếm 24,5%, c&ograve;n lại 4,5% tổng ng&acirc;n s&aacute;ch cho đầu tư.</p> <p> B&ecirc;n cạnh đ&oacute;, chưa c&oacute; sự minh bạch trong sử dụng vốn vay. Việt Nam c&oacute; rất nhiều dự &aacute;n chậm tiến độ so với dự kiến. C&agrave;ng k&eacute;o d&agrave;i, tr&igrave; trệ th&igrave; c&agrave;ng lỗ, trong khi đ&oacute; th&igrave; g&aacute;nh nặng trả l&atilde;i của c&aacute;c khoản vay lại ng&agrave;y c&agrave;ng tăng. Đặt ra c&acirc;u hỏi l&agrave; liệu nguồn vốn đ&atilde; thực sự được đầu tư đ&uacute;ng hướng v&agrave; c&aacute;c nh&agrave; l&atilde;nh đạo đ&atilde; thực sự đặt lợi &iacute;ch quốc gia l&ecirc;n h&agrave;ng đầu khi m&agrave; c&oacute; qu&aacute; nhiều dự &aacute;n thua lỗ, chậm trễ, phải thay đổi nhiều nh&agrave; thầu mới c&oacute; thể ho&agrave;n th&agrave;nh.</p> <p> <em>Q</em><em>uản l&yacute; nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam</em></p> <p> Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IFM), t&iacute;nh đến hết năm 2018, nợ c&ocirc;ng tại hầu hết c&aacute;c quốc gia v&agrave; v&ugrave;ng l&atilde;nh thổ tr&ecirc;n thế giới đ&atilde; tăng mạnh so với hơn 1 thập kỷ trước. Trong đ&oacute;, tại c&aacute;c nền kinh tế ph&aacute;t triển, tỷ lệ nợ c&ocirc;ng/GDP đ&atilde; tăng rất mạnh trong giai đoạn hậu khủng hoảng 2007-2012 trước khi dừng lại v&agrave; đi ngang.</p> <p> Ngược lại, trong khoảng 5 năm trở lại đ&acirc;y, Ch&iacute;nh phủ tại c&aacute;c nền kinh tế mới nổi v&agrave; đang ph&aacute;t triển lại c&oacute; xu hướng đẩy mạnh chi ti&ecirc;u v&agrave; vay mượn nhiều hơn. T&igrave;nh trạng nợ c&ocirc;ng/GDP &aacute;p s&aacute;t trần an to&agrave;n do đ&oacute; đ&atilde; trở n&ecirc;n phổ biến tr&ecirc;n quy m&ocirc; to&agrave;n cầu trong những năm gần đ&acirc;y.</p> <p> Nhận định về t&igrave;nh h&igrave;nh nợ c&ocirc;ng của Việt Nam ở thời điểm hiện tại, CTCP Chứng kho&aacute;n Rồng Việt (VDSC) cho rằng, mặc d&ugrave; được xếp hạng kh&aacute; cao trong khu vực về tỷ lệ nợ c&ocirc;ng/GDP nhưng ch&uacute;ng ta kh&ocirc;ng thể phủ nhận những nỗ lực của Ch&iacute;nh phủ trong việc kiểm so&aacute;t v&agrave; giảm tỷ lệ n&agrave;y th&ocirc;ng qua kế hoạch t&agrave;i ch&iacute;nh c&ocirc;ng v&agrave; đầu tư c&ocirc;ng trung hạn giai đoạn 2016-2020.</p> <p> Trong bức tranh chung về t&agrave;i ch&iacute;nh c&ocirc;ng, Việt Nam đ&atilde; v&agrave; đang từng bước ghi nhận những điểm t&iacute;ch cực khi tỷ lệ nợ c&ocirc;ng, nợ ch&iacute;nh phủ v&agrave; nợ nước ngo&agrave;i đều dần trở n&ecirc;n t&iacute;ch cực v&agrave; nằm trong giới hạn cho ph&eacute;p.</p> <p> Đặc biệt, trong 3 năm trở lại đ&acirc;y, tỷ lệ nợ c&ocirc;ng/GDP đ&atilde; giảm từ mức đỉnh 63,7% xuống 58,4% trong khi nợ ch&iacute;nh phủ/GDP được k&eacute;o về ngưỡng 50%. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế hồi phục v&agrave; đạt mức 7,1% trong năm 2018, qu&aacute; tr&igrave;nh tho&aacute;i vốn v&agrave; cổ phần h&oacute;a cũng được đẩy mạnh trong giai đoạn kể tr&ecirc;n. Hoạt động chi thường xuy&ecirc;n cũng được Ch&iacute;nh phủ kiểm so&aacute;t chặt chẽ hơn khi tỷ lệ chi thường xuy&ecirc;n so với tổng chi ng&acirc;n s&aacute;ch Nh&agrave; nước giảm từ 75% về 68%.</p> <table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" style="width:581px;" width="580"> <tbody> <tr> <td> <p align="center" style="margin-left:-47.05pt;"> <img alt="http://thoibaonganhang.vn/stores/news_dataimages/quanva/102019/15/09/24b213f9a0a942aac161b378c3e984ed_no-cong-1.jpg" height="107" src="file:////Users/dovantinh/Library/Group%20Containers/UBF8T346G9.Office/TemporaryItems/msohtmlclip/clip_image004.jpg" width="436" /></p> </td> </tr> <tr> <td> <p> &nbsp;</p> </td> </tr> </tbody> </table> <p> Mặc d&ugrave; vậy, VDSC cho rằng vẫn c&ograve;n đ&oacute; những vấn đề cần được cải thiện như tốc độ giải ng&acirc;n vốn đầu tư c&ocirc;ng c&ograve;n chậm l&agrave;m giảm hiệu quả sử dụng nguồn vốn huy động. Ngo&agrave;i ra, diễn biến tho&aacute;i vốn, cổ phần h&oacute;a đang tắc nghẽn v&agrave; bội chi Ng&acirc;n s&aacute;ch vẫn đang ở mức cao so với c&aacute;c nước trong khu vực.</p> <p> Thực trạng về quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng</p> <p> Trong khi, nhu cầu tập trung v&agrave; khai th&aacute;c vốn cho nền kinh tế trong khu vực kinh tế Nh&agrave; nước ng&agrave;y c&agrave;ng cao, nhiệm vụ huy động vốn, vay nợ v&agrave; dịch vụ trả nợ ng&agrave;y c&agrave;ng tăng th&igrave; c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; nợ lại chưa theo kịp y&ecirc;u cầu.</p> <p> Nh&igrave;n chung, c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; nợ của Việt Nam chưa được đầu tư v&agrave; quan t&acirc;m đ&uacute;ng mức, chưa tập trung. Cho đến nay, c&aacute;c khu&ocirc;n khổ ph&aacute;p l&yacute; về vay nợ, trả nợ, quản l&yacute; v&agrave; sử dụng c&aacute;c khoản vay nợ đ&atilde; c&oacute; nhưng hiệu lực ph&aacute;p l&yacute; chưa cao. Trước khi c&oacute; Luật về Quản l&yacute; nợ C&ocirc;ng (hiệu lực 01/01/2010), kh&aacute;i niệm &ldquo;nợ c&ocirc;ng&rdquo; chưa h&igrave;nh th&agrave;nh. Cho đến nay, đ&atilde; c&oacute; quy định nợ c&ocirc;ng gồm nợ Ch&iacute;nh phủ, nợ được Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh v&agrave; nợ ch&iacute;nh quyền địa phương, nhưng c&aacute;c quy định về mục ti&ecirc;u, phạm vi, thẩm quyền quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng c&ograve;n rất rời rạc. Quản l&yacute; nợ khu vực c&ocirc;ng do nhiều cơ quan c&ugrave;ng tham gia quản l&yacute;; ngay trong nợ Ch&iacute;nh phủ cũng t&aacute;ch rời giữa quản l&yacute; nợ trong nước v&agrave; nước ngo&agrave;i. Điều đ&oacute; đ&atilde; hạn chế đ&aacute;ng kể năng lực quản l&yacute; nợ của quốc gia. Bức tranh to&agrave;n diện, ch&iacute;nh x&aacute;c v&agrave; kịp thời về t&igrave;nh trạng nợ quốc gia chưa được thể hiện, đ&atilde; kh&ocirc;ng cho ph&eacute;p cung cấp những th&ocirc;ng tin tin cậy cho việc hoạch định c&aacute;c ch&iacute;nh s&aacute;ch t&agrave;i kh&oacute;a theo hướng vừa huy động tối đa được nguồn vốn cho đầu tư với chi ph&iacute; thấp nhất c&oacute; thể, vừa gi&aacute;m s&aacute;t tốt rủi ro t&agrave;i kh&oacute;a ph&aacute;t sinh từ hoạt động vay nợ của Ch&iacute;nh phủ v&agrave; khu vực c&ocirc;ng, gi&uacute;p duy tr&igrave; sự l&agrave;nh mạnh của nền t&agrave;i ch&iacute;nh, tiền tệ quốc gia x&eacute;t về tầm trung &ndash; d&agrave;i hạn.</p> <p> C&aacute;c nước c&agrave;ng ph&aacute;t triển c&agrave;ng quan t&acirc;m đến quản l&yacute; nợ Nh&agrave; nước v&agrave; y&ecirc;u cầu t&iacute;nh minh bạch cao trong c&aacute;c hoạt động vay, trả v&agrave; quản l&yacute; nợ của Ch&iacute;nh phủ. Nếu Ch&iacute;nh phủ gặp kh&oacute; khăn trong thanh to&aacute;n nợ, sẽ ảnh hưởng kh&ocirc;ng nhỏ đến c&aacute;c chương tr&igrave;nh ph&uacute;c lợi x&atilde; hội hoặc buộc phải cắt giảm một số khoản chi cho đầu tư ph&aacute;t triển, đồng thời c&oacute; thể dẫn đến bất ổn tr&ecirc;n thị trường t&agrave;i ch&iacute;nh. Quản l&yacute; tốt nợ c&ocirc;ng, gi&uacute;p tăng cường khả năng ứng ph&oacute; của quốc gia trước một số diễn biến bất lợi của m&ocirc;i trường kinh tế trong v&agrave; ngo&agrave;i nước, gi&uacute;p quốc gia vay nợ được ở mức cao hơn. Quản l&yacute; tốt nợ c&ocirc;ng, cũng gi&uacute;p ph&aacute;t triển thị trường huy động vốn trong nước của Ch&iacute;nh phủ n&oacute;i ri&ecirc;ng v&agrave; thị trường t&agrave;i ch&iacute;nh n&oacute;i chung, th&ocirc;ng qua việc tăng t&iacute;nh minh bạch v&agrave; dự đo&aacute;n được của c&aacute;c hoạt động vay nợ của Ch&iacute;nh phủ, với tư c&aacute;ch một chủ thể quan trọng của thị trường.</p> <p> Theo đ&aacute;nh gi&aacute; của Ch&iacute;nh phủ v&agrave; Quốc hội c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; ở Việt Nam hiện nay như sau:</p> <p> Hệ thống thể chế v&agrave; ch&iacute;nh s&aacute;ch quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng đ&atilde; được h&igrave;nh th&agrave;nh, c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; v&agrave; gi&aacute;m s&aacute;t nợ c&ocirc;ng đ&atilde; được quan t&acirc;m, đang tiệm cận dần với th&ocirc;ng lệ quốc tế. C&oacute; thể khẳng định, đ&atilde; c&oacute; một số văn bản ph&aacute;p l&yacute;, một số quy định v&agrave; hướng dẫn của Nh&agrave; nước để quản l&yacute; nợ, vay nợ v&agrave; trả nợ của Nh&agrave; nước. Luật Quản l&yacute; nợ, Luật Ng&acirc;n s&aacute;ch Nh&agrave; nước, c&aacute;c Nghị định, Quyết định của Ch&iacute;nh phủ, c&aacute;c Th&ocirc;ng tư, c&aacute;c văn bản quy định v&agrave; hướng dẫn của c&aacute;c Bộ Ng&agrave;nh đ&atilde; tạo lập cơ sở ph&aacute;p l&yacute; cho việc vay nợ trong nước v&agrave; nước ngo&agrave;i, việc sử dụng v&agrave; trả nợ c&aacute;c khoản vay. C&aacute;c quy định về ph&aacute;t h&agrave;nh bảo l&atilde;nh Ch&iacute;nh phủ cũng đ&atilde; tạo dựng cơ sở ph&aacute;p l&yacute; cho việc ph&aacute;t h&agrave;nh.</p> <p> Tr&ecirc;n cơ sở c&aacute;c quy định mang t&iacute;nh ph&aacute;p l&yacute;, c&oacute; thể x&aacute;c định phạm vi quản l&yacute; nợ Nh&agrave; nước (Nợ C&ocirc;ng) bao gồm quản l&yacute; nợ trong nước v&agrave; nợ nước ngo&agrave;i của khu vực Nh&agrave; nước. Nợ Nh&agrave; nước l&agrave; to&agrave;n bộ c&aacute;c nghĩa vụ nợ thực tế của khu vực Nh&agrave; nước v&agrave; những bảo l&atilde;nh của Ch&iacute;nh phủ. Ch&iacute;nh phủ c&oacute; tr&aacute;ch nhiệm chuẩn bị khả năng trả nợ, để trang trải nợ v&agrave; duy tr&igrave; hệ số t&iacute;n nhiệm của quốc gia. Đồng thời, đ&atilde; h&igrave;nh th&agrave;nh quy tr&igrave;nh vay v&agrave; trả nợ l&agrave;m căn cứ cho việc quản l&yacute; nợ. Tuy nhi&ecirc;n, cơ chế, ch&iacute;nh s&aacute;ch quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng c&ograve;n qu&aacute; ph&acirc;n t&aacute;n ở nhiều văn bản quy phạm ph&aacute;p luật, c&ograve;n c&oacute; sự chồng ch&eacute;o, m&acirc;u thuẫn. Đặc biệt, l&agrave; sự thiếu gắn kết giữa chức năng quyết định đầu tư với chức năng c&acirc;n đối ng&acirc;n s&aacute;ch để trả nợ. Thiếu chế t&agrave;i kiểm so&aacute;t chỉ số nợ c&ocirc;ng, thiếu c&aacute;c biện ph&aacute;p cần thiết v&agrave; c&oacute; hiệu quả để quản l&yacute; rủi ro nợ, vay nợ v&agrave; trả nợ của Ch&iacute;nh phủ v&agrave; ch&iacute;nh quyền địa phương.</p> <p> Đ&aacute;nh gi&aacute; về quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam từ 2006 &ndash; 2012</p> <p> <em>Những th&agrave;nh c&ocirc;ng trong c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng</em></p> <p> <em>Thứ nhất</em>, đ&aacute;p ứng được nhu cầu bổ sung vốn cho đầu tư ph&aacute;t triển v&agrave; c&acirc;n đối ng&acirc;n s&aacute;ch nh&agrave; nước. Nợ c&ocirc;ng giai đoạn 2006 - 2012 l&agrave; 23%, b&ugrave; đắp bội chi NSNN khoảng 5% GDP. Ngo&agrave;i ra, nhiều dự &aacute;n cơ sở hạ tầng, c&aacute;c chương tr&igrave;nh x&oacute;a đ&oacute;i giảm ngh&egrave;o, cải thiện m&ocirc;i trường, giải quyết việc l&agrave;m, an sinh x&atilde; hội, c&aacute;c dự &aacute;n tăng trọng quốc gia... đều được đầu tư bằng nguồn vốn vay c&ocirc;ng.</p> <p> <em>Thứ hai</em>, c&aacute;c chỉ số nợ c&ocirc;ng hiện nay nếu theo chiến lược d&agrave;i hạn v&agrave; chương tr&igrave;nh nợ c&ocirc;ng trung hạn th&igrave; đang trong giới hạn an to&agrave;n.</p> <p> <em>Thứ ba</em>, c&aacute;c khoản vay nước ngo&agrave;i của Ch&iacute;nh phủ c&oacute; kỳ hạn d&agrave;i, l&atilde;i suất cố định v&agrave; ưu đ&atilde;i; Chẳng hạn như c&aacute;c dự &aacute;n của WB hay ADB thường khoảng 20 - 30 năm, thậm ch&iacute; c&oacute; dự &aacute;n 40 năm; thời gian ngắn hạn từ 5 đến 10 năm; l&atilde;i suất 11 - 12%. Thực tế khoảng 80% khoản vay của ch&uacute;ng ta l&agrave; khoản vay ưu đ&atilde;i n&ecirc;n &aacute;p lực nợ c&ocirc;ng kh&ocirc;ng lớn lắm v&agrave; c&oacute; thể n&oacute;i l&agrave; nằm trong tầm kiểm so&aacute;t được.</p> <p> <em>Thứ tư</em>, cơ cấu đồng tiền vay đa dạng; đặc biệt những năm gần đ&acirc;y tỷ gi&aacute; đồng Việt Nam v&agrave; đồng đ&ocirc; la tương đối ổn định; Nhật Bản nới lỏng ch&iacute;nh s&aacute;ch tiền tệ n&ecirc;n đồng y&ecirc;n yếu đi, ch&uacute;ng ta sẽ c&oacute; lợi rất nhiều trong ch&iacute;nh s&aacute;ch tỷ gi&aacute;, giảm thiểu rủi ro.</p> <p> <em>Thứ năm,</em>&nbsp;xu hướng giảm tỷ trọng nước ngo&agrave;i trong cơ cấu Ch&iacute;nh phủ với ti&ecirc;u ch&iacute;: tỷ trọng h&agrave;ng năm l&agrave; nợ trong nước tăng l&ecirc;n v&agrave; nợ nước ngo&agrave;i giảm đi.</p> <p> <em>Thứ s&aacute;u</em>, h&igrave;nh thức huy động vốn ng&agrave;y c&agrave;ng đa dạng, linh hoạt: kh&ocirc;ng chỉ vay từ c&aacute;c tổ chức t&agrave;i ch&iacute;nh m&agrave; hiện nay vay rất nhiều từ c&aacute;c dịch vụ ph&aacute;i sinh v&agrave; c&aacute;c văn ph&ograve;ng t&agrave;i ch&iacute;nh kh&aacute;c.</p> <p> <em>Thứ bảy</em>, thể chế ch&iacute;nh s&aacute;ch dần được ho&agrave;n thiện, c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; nợ ng&agrave;y c&agrave;ng tốt hơn v&agrave; tiếp cận được th&ocirc;ng lệ quốc tế.</p> <p> Hiện nay, nhờ v&agrave;o c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng m&agrave; t&igrave;nh h&igrave;nh nợ c&ocirc;ng tăng trưởng ổn định, nợ c&ocirc;ng được cơ cấu lại.</p> <p> Thời gian qua Ch&iacute;nh phủ Việt Nam đ&atilde; hết sức nỗ lực v&agrave; đạt được nhiều th&agrave;nh tựu trong duy tr&igrave; ổn định kinh tế vĩ m&ocirc;, tăng trưởng bền vững. C&ugrave;ng với tốc độ tăng trưởng cao, lạm ph&aacute;t ổn định, c&aacute;c chỉ ti&ecirc;u về t&agrave;i ch&iacute;nh &ndash; ng&acirc;n s&aacute;ch nh&agrave; nước (NSNN) đ&atilde; đạt v&agrave; vượt so với kế hoạch đề ra. Thu NSNN đều đạt v&agrave; vượt dự to&aacute;n; chi ng&acirc;n s&aacute;ch tiết kiệm, hiệu quả; bội chi v&agrave; nợ c&ocirc;ng giảm mạnh.&nbsp;</p> <p> <em>C&aacute;c chỉ ti&ecirc;u nợ tiếp tục xu hướng giảm</em></p> <p> Theo c&aacute;c b&aacute;o c&aacute;o mới nhất của Ch&iacute;nh phủ, dự kiến đến cuối năm 2019, nợ c&ocirc;ng ở mức 56,1% GDP (so với 58,4% GDP năm 2018), nợ Ch&iacute;nh phủ ở mức 49,2% GDP (năm 2018 l&agrave; 50% GDP); nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Ch&iacute;nh phủ so với thu ng&acirc;n s&aacute;ch nh&agrave; nước ước khoảng 19,5 &ndash; 20,5%.</p> <p> Một chỉ ti&ecirc;u quan trọng kh&aacute;c l&agrave; nợ nước ngo&agrave;i của quốc gia so với GDP dự kiếm cũng sẽ giảm xuống c&ograve;n khoảng 45,8% (so với mức 46,0% của năm 2018).</p> <p> Một số vấn đề tồn tại trong c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam</p> <p> <em>Thứ nhất</em>, nhu cầu vốn của Việt Nam rất lớn nhưng khả năng ng&acirc;n s&aacute;ch kh&ocirc;ng đủ do đoa bắt buộc ch&uacute;ng ta phải đi vay n&ecirc;n đ&atilde; tạo sức &eacute;p rất lớn, th&uacute;c đẩy tăng nợ c&ocirc;ng.</p> <p> <em>Thứ hai</em>, thị trường tr&aacute;i phiếu trong nước cũng chưa ph&aacute;t triển, huy động vốn trong nước c&ograve;n hạn chế, t&iacute;nh thanh khoản thấp.</p> <p> <em>Thứ ba</em>, hiệu quả sử dụng vốn ODA v&agrave; c&aacute;c ch&iacute;nh s&aacute;ch sử dụng vốn ODA chưa được cao v&agrave; chưa gắn với ch&iacute;nh s&aacute;ch huy động vốn đối ứng.</p> <p> <em>Thứ tư</em>, c&aacute;c chỉ ti&ecirc;u nợ trong tầm kiểm so&aacute;t nhưng một số rủi ro thị trường chưa được t&iacute;nh to&aacute;n kỹ c&agrave;ng; rủi ro t&iacute;n dụng chưa được phản &aacute;nh trong ph&iacute; cho vay lại v&agrave; ph&iacute; bảo l&atilde;nh của Ch&iacute;nh phủ.</p> <p> <em>Thứ năm</em>, cơ chế cảnh b&aacute;o sớm c&ograve;n hạn chế, chẳng hạn như trường hợp của Vinashin, Vinaline... l&agrave; một b&agrave;i học lớn cho ch&uacute;ng ta.</p> <p> <em>Thứ s&aacute;u</em>, quyền hạn của c&aacute;c cơ quan c&ograve;n chồng ch&eacute;o, ph&acirc;n t&aacute;n. Chẳng hạn, đối với cấp Bộ, ng&agrave;nh: Theo Luật Ọuản l&yacute; nợ c&ocirc;ng th&igrave; Bộ T&agrave;i ch&iacute;nh (BTC) gi&uacute;p Ch&iacute;nh phủ thống nhất quản l&yacute; Nh&agrave; nước về nợ c&ocirc;ng (bao gồm tất cả c&aacute;c kh&acirc;u từ x&acirc;y dựng mục ti&ecirc;u, định hướng huy dộng, quản l&yacute; v&agrave; sử dụng vốn vay v&agrave; quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng) nhưng tr&ecirc;n thực tế, Bộ Kế hoạch v&agrave; Đầu tư lại được Ch&iacute;nh ph&ugrave; giao cho việc huy động vốn ODA v&agrave; vốn đ&ocirc; la. Tuy nhi&ecirc;n kh&acirc;u huy động lại kh&ocirc;ng gắn kết với nguồn trả nợ, kh&ocirc;ng gắn với mục đ&iacute;ch sử dụng... Mặt kh&aacute;c, BTC l&agrave; đơn vị chủ tr&igrave; x&acirc;y dựng hạn mức vay nước ngo&agrave;i, bao gồm cả hạn mức tự vay, tự trả của doanh nghiệp nhưng điều h&agrave;nh cụ thể lại do NHNN. Như vậy, r&otilde; r&agrave;ng từ k&ecirc;nh huy động, trả nợ, sử dụng vẫn c&ograve;n chưa thống nhất với nhau.</p> <p> Khuyến nghị về quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng của tổ chức IMF</p> <p> Th&aacute;ng 4/2012, NHNN c&oacute; l&agrave;m việc với IMF về đ&aacute;nh gi&aacute; nợ vốn của Việt Nam v&agrave; đ&atilde; được khuyến nghị:</p> <p> <em>Thứ nhất</em>, tỷ lệ đầu tư c&ocirc;ng v&agrave; nợ c&oacute; bảo l&atilde;nh ch&iacute;nh phủ/GDP đ&atilde; giảm từ năm 2011&nbsp;<em>nhưng vẫn c&ograve;n những nguy cơ đối với triển vọng nợ.</em></p> <p> <em>Thứ hai</em>, tiến độ thực hiện giải ph&aacute;p đối với khu vực t&agrave;i ch&iacute;nh bởi&nbsp;<em>NHNN c&ograve;n chậm, khu vực t&agrave;i ch&iacute;nh vẫn c&ograve;n dễ đổ vỡ v&agrave; c&ograve;n nhiều rủi ro xuất ph&aacute;t từ c&aacute;c khoản cho vay DNNN</em>. C&oacute; thể n&oacute;i, Đo&agrave;n đ&aacute;nh gi&aacute; rất e ngại về nợ xấu trong NHNN. Những biện ph&aacute;p của NHNN hiện nay chưa đủ mạnh, những rủi ro, ph&aacute;t sinh từ nợ xấu của NHNN c&ograve;n tiềm ẩn. Ngo&agrave;i ra, nghĩa vụ nợ dự ph&ograve;ng ph&aacute;t sinh từ nợ xấu của NHNN v&agrave; nợ của c&aacute;c DNNN l&agrave; ch&uacute;ng ta kh&ocirc;ng đ&aacute;nh gi&aacute; được, c&ograve;n rủi ro rất lớn.</p> <p> Khuyến nghị của IMF l&agrave; Việt Nam phải giảm nợ c&ocirc;ng xuống 43% GDP v&agrave;o năm 2017, tiếp tục giảm sau đ&oacute; v&agrave; tiếp tục duy tr&igrave; ở mức n&agrave;y trong giai đoạn tiếp theo. IMF cũng đưa ra dự b&aacute;o chỉ số kinh tế vĩ m&ocirc; dựa tr&ecirc;n cơ sở dữ liệu của ch&uacute;ng ta như c&aacute;n c&acirc;n thanh to&aacute;n, nợ tr&ecirc;n yếu tố giả định kinh tế vĩ m&ocirc; l&agrave;: Phải tăng nguồn thu ngo&agrave;i dầu mỏ như thuế thu nhập c&aacute; nh&acirc;n; Kiểm so&aacute;t chi thường xuy&ecirc;n v&agrave; đầu tư x&acirc;y dựng cơ bản; cần ước t&iacute;nh những nghĩa vụ nợ dự ph&ograve;ng, nhất l&agrave; c&aacute;c khoản vay được Ch&iacute;nh phủ bảo l&atilde;nh; C&ocirc;ng t&aacute;c thanh tra gi&aacute;m s&aacute;t về kiểm to&aacute;n cần được tăng cường; C&aacute;c chuẩn mực kế to&aacute;n, cụ thể l&agrave; li&ecirc;n quan đến ph&acirc;n loại nợ v&agrave; tr&iacute;ch lập dự ph&ograve;ng rủi ro cần được điều chỉnh theo c&aacute;c chuẩn mực b&aacute;o c&aacute;o t&agrave;i ch&iacute;nh quốc tế.</p> <p> <strong>C&Aacute;C GIẢI PH&Aacute;P ỨNG PH&Oacute; NỢ C&Ocirc;NG</strong></p> <p> <strong><em>Giải ph&aacute;p ứng ph&oacute; của c&aacute;c nước ph&aacute;t triển v&agrave; b&agrave;i học cho Việt Nam</em></strong></p> <p> Thứ nhất, x&acirc;y dựng chiến lượt quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng. Tại Hội nghị Thượng đ&igrave;nh ch&acirc;u &Acirc;u (26/10/2011), c&aacute;c nước th&agrave;nh vi&ecirc;n khu vực đồng euro đa đạt được đồng thuận về kế hoạch chống khủng hoảng để đảm bảo cho sự tồn tại của khu vực. Kế hoạch bao gồm 4 điểm ch&iacute;nh: 1) x&oacute;a bỏ 50% nợ c&ocirc;ng của Hy Lạp ; 2) tăng vốn cho c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng ch&acirc;u &Acirc;u; 3) n&acirc;ng khả năng can thiệp của Quỹ b&igrave;nh ổn t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u (EFSF) l&ecirc;n th&agrave;nh 1000 tỷ euro thay v&igrave; 440 tỷ như hiện nay; 4) gia tăng c&aacute;c biện ph&aacute;p giới hạn bội chi ng&acirc;n s&aacute;ch của c&aacute;c th&agrave;nh vi&ecirc;n trong khối sử dụng đồng tiền chung ch&acirc;u &Acirc;u.</p> <p> Trước thực trạng khủng hoảng nợ c&ocirc;ng, EU v&agrave; Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đ&atilde; biết lập Quỹ chống khủng hoảng (th&aacute;ng 5/2010) với số tiền l&ecirc;n tới 750 tỷ euro. Ngay lập tức, Quỹ chống khủng hoảng đ&atilde; trợ cấp cho Hy Lạp g&oacute;i cứu trợ 110 tỷ euro v&agrave; tiếp tực g&oacute;i cứu trợ thứ hai 85 tỷ euro (th&aacute;ng 12/2010). Năm 2013, Quỹ sẽ bắt đầu hoạt động với t&ecirc;n mới l&agrave; Cơ chế ph&aacute;t triển bền vững của Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u.</p> <p> Thiết lập cơ chế &ldquo;European Semester&rdquo; (Học kỳ ch&acirc;u &Acirc;u) để li&ecirc;n kết phối hợp chặt chẽ giữa c&aacute;c th&agrave;nh vi&ecirc;n ch&acirc;u &Acirc;u về kinh tế để tr&aacute;nh t&aacute;i diễn khủng hoảng nợ tương tự. Mục ti&ecirc;u của cơ chế l&agrave; gi&aacute;m s&aacute;t mạnh mẽ để kiểm so&aacute;t kinh tế vĩ m&ocirc;, kiểm so&aacute;t chi ti&ecirc;u ng&acirc;n s&aacute;ch, th&acirc;m hụt t&agrave;i ch&iacute;nh. C&ugrave;ng với việc hỗ trợ về t&agrave;i ch&iacute;nh, EU thắt chặt hơn c&aacute;c nguy&ecirc;n tắc về việc chi ti&ecirc;u ng&acirc;n s&aacute;ch, tăng cường c&aacute;c biện ph&aacute;p trừng phạt đối với những nước th&agrave;nh vi&ecirc;n vi phạm nguy&ecirc;n tắc n&agrave;y; ki&ecirc;n quyết v&agrave; chấm dứt c&aacute;c g&oacute;i k&iacute;ch th&iacute;ch kinh tế, cắt giảm chi ti&ecirc;u c&ocirc;ng v&agrave; tăng thuế nhằm giảm bớt th&acirc;m hụt ng&acirc;n s&aacute;ch; củng cố ch&iacute;nh s&aacute;ch t&agrave;i kh&oacute;a. Xuất khẩu tiếp tục được coi l&agrave; động lực quan trọng nhằm th&uacute;c đẩy tăng trưởng kinh tế EU.</p> <p> Thứ hai, th&agrave;nh lập Quỹ b&igrave;nh ổn t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u (EFSF) (hay c&ograve;n gọi l&agrave; Quỹ cứu trợ khẩn cấp tạm thời) v&agrave; th&agrave;nh lập Quỹ hỗ trợ thường trực. Quỹ b&igrave;nh ổn t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u v&agrave; Quỹ hỗ trợ thường trực sẽ do Ng&acirc;n h&agrave;ng Trung ương ch&acirc;u &Acirc;u (ECB) quản l&yacute;. C&aacute;c Quỹ n&agrave;y được x&acirc;y dựng nhằm gi&uacute;p đỡ c&aacute;c th&agrave;nh vi&ecirc;n gặp kh&oacute; khăn. Việc giải ng&acirc;n sẽ được th&ocirc;ng qua với 85% phiếu thuận.</p> <p> Mở rộng Quỹ b&igrave;nh ổn t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u (EFSF) được coi l&agrave; một trong c&aacute;c biện ph&aacute;p quan trọng nhằm ngăn chặn khủng hoảng nợ lan rộng. Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u quyết định cho ph&eacute;p c&aacute;c doanh nghiệp tư nh&acirc;n v&agrave; c&aacute;c nước mới nổi trỗi dậy đầu tư v&agrave;o EFSF.</p> <p> Phương thức hoạt động của Quỹ l&agrave; cho c&aacute;c quốc gia l&acirc;m nợ như Italia v&agrave; T&acirc;y Ban Nha vay l&ecirc;n tới h&agrave;ng trăm, thậm ch&iacute; h&agrave;ng ngh&igrave;n tỷ USD bằng c&aacute;ch cung cấp cho c&aacute;c quốc gia n&agrave;y một loại bảo hiểm để đảm bảo tr&aacute;i phiếu quốc gia hấp dẫn c&aacute;c nh&agrave; đầu tư. Nhật Bản hiện l&agrave; chủ nợ ch&iacute;nh của khu vực đồng euro, nắm giữ đến 20% trong tổng số 440 tỷ euro vốn của EFSF.</p> <p> Trung Quốc &ndash; nước giữ 60% dự trữ ngoại hối của thế giới (khoảng 3.200 tỷ USD sẵn s&agrave;ng đ&oacute;ng g&oacute;p t&agrave;i ch&iacute;nh cho Quỹ b&igrave;nh ổn t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u. Trung Quốc sẽ c&oacute; lợi khi Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u v&agrave; Eurozone tho&aacute;t khỏi khủng hoảng bởi ch&acirc;u &Acirc;u l&agrave; thị trường xuất khẩu h&agrave;ng đầu của Trung Quốc (khoảng 20%) v&agrave; hiện đang nắm giữ 600 tỷ euro dự trữ ngoại hối. Việc trợ gi&uacute;p ch&acirc;u &Acirc;u cho ph&eacute;p t&aacute;i c&acirc;n bằng mối quan hệ tay ba với Mỹ v&igrave; Trung Quốc mong muốn c&oacute; một thế giới đa cực. Nếu bị kẹt trong mối quan hệ ho&agrave;n to&agrave;n song phương với Mỹ, Trung Quốc sẽ l&acirc;m v&agrave;o t&igrave;nh thế kh&oacute; khăn hơn. T&oacute;m lại, Trung Quốc sẽ c&oacute; lợi lớn nếu gi&uacute;p ch&acirc;u &Acirc;u giải quyết vấn đề nợ để tr&aacute;nh cho ch&acirc;u lục n&agrave;y rơi v&agrave;o t&igrave;nh trạng ph&aacute; sản. Việc Trung Quốc đ&oacute;ng g&oacute;p v&agrave;o Quỹ b&igrave;nh ổn t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u sẽ gi&uacute;p nước n&agrave;y c&oacute; được vị thế mạnh hơn để thương lượng c&aacute;c điểm bất đồng kh&aacute;c trong mối quan hệ với Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u, chẳng hạn như quy chế kinh tế thị trường, đ&ograve;i được tự do tiếp cận c&ocirc;ng nghệ&hellip; Kh&ocirc;ng chỉ c&oacute; được lợi &iacute;ch về kinh tế thương mại, tham gia cứu trợ ch&acirc;u &Acirc;u cũng l&agrave; l&yacute; do địa ch&iacute;nh trị của Trung Quốc nhằm duy tr&igrave; ch&acirc;u &Acirc;u như một đối t&aacute;c tầm cỡ tr&ecirc;n trường quốc tế để giữ thế giới được ổn định. Trung Quốc c&oacute; thể sẽ đầu tư 35 &ndash; 70 tỷ euro, thậm ch&iacute; hơn nữa v&agrave;o EFSF với mục: Một l&agrave;, Trung Quốc muốn đổi lấy những đảm bảo về mọi mặt. Trung Quốc muốn được hưởng quy chế kinh tế thị trường sớm hơn năm 2016 (năm thỏa thuận khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO). Quy chế n&agrave;y sẽ gi&uacute;p h&agrave;ng h&oacute;a Trung Quốc c&oacute; được sự bảo đảm tốt hơn để th&acirc;m nhập v&agrave;o thị trường ch&acirc;u &Acirc;u v&igrave; nhờ quy chế đ&oacute; m&agrave; kh&ocirc;ng bị ảnh hưởng bởi c&aacute;c điều khoản chống b&aacute;n ph&aacute; gi&aacute;; Hoặc Trung Quốc c&oacute; thể y&ecirc;u cầu kiểm so&aacute;t chặt chẽ hơn c&aacute;c nền kinh tế ch&acirc;u &Acirc;u, dưới sự kiểm so&aacute;t chặt chẽ của Quỹ tiền tệ quốc tế; Hai l&agrave;,&nbsp; Trung Quốc kh&ocirc;ng muốn phạm sai lầm như với Mỹ &ndash; quốc gia m&agrave; Trung Quốc đ&atilde; d&ugrave;ng khoảng &frac12; trong tổng số 3200 tỷ USD dự trữ ngoại tệ (phần lớn l&agrave; tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ Mỹ) để đầu tư. Mục ti&ecirc;u của Trung Quốc l&agrave; cất giữ tiền mặt c&oacute; được do thặng dư thương mại qu&aacute; lớn, đồng thời để đưa ra bảo đảm với Mỹ &ndash; nước đang lo ngại trước sự trỗi dậy của cường quốc Trung Quốc, v&agrave; tr&aacute;nh được một cuộc &ldquo;chiến tranh lạnh&rdquo; mới. Tuy nhi&ecirc;n, cuộc khủng hoảng năm 2008 đ&atilde; đe dọa to&agrave;n bộ nền kinh tế Mỹ, Trung Quốc sẽ kh&ocirc;ng đầu tư với c&ugrave;ng những điều kiện đ&oacute; để giải cứu ch&acirc;u &Acirc;u m&agrave; sẽ đ&ograve;i tối đa sự đảm bảo. Trung Quốc đ&atilde; x&aacute;c định ch&iacute;nh s&aacute;ch dự trữ của m&igrave;nh theo hướng t&igrave;m kiếm ổn định, tiền mặt v&agrave; t&aacute;i đầu tư cũng như một ch&iacute;nh s&aacute;ch chiến lược d&agrave;i hạn; Ba l&agrave;, Trung Quốc kh&ocirc;ng muốn tạo cớ cho ph&aacute;i phản kh&aacute;ng d&acirc;n tộc chủ nghĩa ở trong nước. Bởi khi đầu tư v&agrave;o tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ Mỹ, Trung QUốc đ&atilde; phải đối mặt với l&agrave;n s&oacute;ng phản kh&aacute;ng d&acirc;n tộc chủ nghĩa. Theo họ, Trung Quốc phải sử dụng t&agrave;i nguy&ecirc;n của m&igrave;nh để giải quyết c&aacute;c vấn đề ph&aacute;t triển ở trong nước hơn l&agrave; để t&agrave;i trợ th&acirc;m hụt của Mỹ, đặc biệt l&agrave; của ch&acirc;u &Acirc;u, m&agrave; kh&ocirc;ng t&iacute;nh đến c&aacute;i được mất về chiến lược. Điều Ch&iacute;nh phủ Trung Quốc lo ngại l&agrave; l&agrave;m sao biết c&aacute;ch giải th&iacute;ch quyết định n&agrave;y cho người d&acirc;n trong nước; Bốn l&agrave;, Trung Quốc sẽ đ&ograve;i được tự do tiếp cận c&ocirc;ng nghệ. Cứu được ch&acirc;u &Acirc;u &ndash; thị trường h&agrave;ng đầu thế giới đối với h&agrave;ng h&oacute;a Trung Quốc, sẽ gi&uacute;p mở rộng cửa hơn cho d&ograve;ng đầu tư của Trung Quốc. Đầu tư của Trung Quốc ở ch&acirc;u &Acirc;u hiện c&ograve;n khi&ecirc;m tốn, nhưng đ&atilde; tăng l&ecirc;n 50%, khoảng 5,6 tỷ euro (năm 2011). Trung Quốc mua lại nhiều doanh nghiệp của ch&acirc;u &Acirc;u v&agrave; được coi l&agrave; người giải cứu cho lĩnh vực gặp kh&oacute; khăn của ch&acirc;u lục n&agrave;y. V&iacute; dụ, Trung Quốc mua lại tổ hợp chế tạo xe hơi Saab của Thụy Điển c&oacute; nh&atilde;n hiệu v&agrave; c&ocirc;ng nghệ được thừa nhận với gi&aacute; gần 100 triệu euro. T&oacute;m lại, việc Trung Quốc tăng khoản đ&oacute;ng g&oacute;p v&agrave;o t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u sẽ gi&uacute;p họ c&oacute; được vị thế mạnh hơn để thương lượng c&aacute;c điểm bất đồng kh&aacute;c trong mối quan hệ với Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u. To&agrave;n cầu h&ograve;a đ&atilde; gi&uacute;p Trung Quốc c&oacute; được rất nhiều lợi thế: rất nhiều vốn v&agrave; c&ocirc;ng nghệ. Qu&aacute; tr&igrave;nh to&agrave;n cầu h&oacute;a gi&uacute;p Trung Quốc tiếp cận được nhiều thị trường lớn ở ch&acirc;u &Acirc;u. Sự phụ thuộc ng&agrave;y c&agrave;ng tăng giữa Trung Quốc v&agrave; ch&acirc;u &Acirc;u v&agrave;o đ&uacute;ng thời điểm căng thẳng giữa Trung Quốc v&agrave; Mỹ l&ecirc;n tới mức cao độ.</p> <p> Cơ chế b&igrave;nh ổn ch&acirc;u &Acirc;u trong tương lai sẽ l&agrave; một c&ocirc;ng cụ chủ yếu để bảo vệ t&iacute;nh ổn định t&agrave;i ch&iacute;nh ở ch&acirc;u &Acirc;u. Cuộc họp thượng định (21/7/2011) quyết định trang bị cho cơ chế n&agrave;y quyền được mua c&aacute;c tr&aacute;i phiếu tr&ecirc;n thị trường thứ yếu, quyền can thiệp nếu cần thiết để gi&uacute;p đỡ c&aacute;c nước đang gặp kh&oacute; khăn.</p> <p> Thứ ba, ban h&agrave;nh ch&iacute;nh s&aacute;ch tiết kiệm, tăng nguồn thu v&agrave; cắt giảm c&aacute;c khoản chi ti&ecirc;u th&ocirc;ng qua kế hoạch &ldquo;thắt lưng buộc bụng&rdquo;. Để tr&aacute;nh bị rơi s&acirc;u v&agrave;o khủng hoảng nợ v&agrave; cứu v&atilde;n nền kinh tế khỏi sụp độ, Ch&iacute;nh phủ c&aacute;c nước ch&acirc;u &Acirc;u đ&atilde; phải thực hiện h&agrave;ng loạt biện ph&aacute;p với trọng t&acirc;m l&agrave; c&aacute;c ch&iacute;nh s&aacute;ch &ldquo;thắt lưng buộc bụng&rdquo;, giảm lương c&ocirc;ng chức (kể cả lương hưu), cắt giảm chi ti&ecirc;u (gồm cả những chương tr&igrave;nh an sinh x&atilde; hội, an ninh, quốc ph&ograve;ng), đẩy mạnh tiết kiệm, tăng cường kiểm so&aacute;t thu chi, t&iacute;ch cực chống tham nhũng v&agrave; trốn thuế, tăng một số sắc thuế v&agrave; c&aacute;c nguồn thu kh&aacute;c. Ch&acirc;u &Acirc;u thắt chặt chi ti&ecirc;u sẽ gi&uacute;p giảm bớt h&agrave;ng nhập khẩu, giảm bớt g&aacute;nh nặng th&acirc;m hụt thương mại. Thắt chặt chi ti&ecirc;u sẽ c&oacute; lợi cho c&aacute;c quốc gia v&agrave; duy tr&igrave; được mức ti&ecirc;u thụ h&agrave;ng trong nước sản xuất.</p> <p> Thứ tư, củng cố v&agrave; cải tổ hệ thống t&agrave;i ch&iacute;nh &ndash; ng&acirc;n h&agrave;ng. Thực tế, c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng ch&acirc;u &Acirc;u đ&atilde; bị khủng hoảng từ trước đ&oacute;. Năm 2009, Ng&acirc;n h&agrave;ng Trung ương ch&acirc;u &Acirc;u cho c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng vay 450 tỷ euro (hơn 540 tỷ USD) để vượt qua khủng hoảng. Song thực tế, t&igrave;nh trạng đ&oacute; kh&ocirc;ng những kh&ocirc;ng được cải thiện m&agrave; ng&agrave;y c&agrave;ng th&ecirc;m nguy ngập. Hệ thống ng&acirc;n h&agrave;ng ch&acirc;u &Acirc;u gặp kh&oacute; khăn l&agrave; do: Một l&agrave;, sự ra đời của đồng euro (năm 1999) v&agrave; khả năng đi vay rất rẻ nhờ xương sống của đồng tiền n&agrave;y l&agrave; nền kinh tế Đức, c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng ồ ạt bơm t&iacute;n dụng v&agrave; tạo l&ecirc;n bong b&oacute;ng địa ốc lớn hơn bong b&oacute;ng địa ốc ở Mỹ (như miền Nam nước Anh v&agrave; Hy Lạp); Hai l&agrave;,&nbsp; một số quốc gia ch&acirc;u &Acirc;u đem tiền từ nơi c&oacute; l&atilde;i suất thấp đến đầu tư v&agrave;o nơi c&oacute; l&atilde;i suất cao hơn. Nhờ vậy, đồng euro tr&agrave;n v&agrave;o c&aacute;c nước Đ&ocirc;ng &Acirc;u v&agrave; Trung &Acirc;u đang chuyển đỏi v&agrave; đang trong cơn sốt t&aacute;i thiết; Ba l&agrave;, nhiều ng&acirc;n h&agrave;ng của c&aacute;c nước c&oacute; quy m&ocirc; trung b&igrave;nh, thậm ch&iacute; l&agrave; k&eacute;m như Hy Lạp cũng tr&uacute;t tiền v&agrave;o c&aacute;c dự &aacute;n ở Đ&ocirc;ng &Acirc;u v&agrave; bị đọng vốn ở đ&oacute;; Bốn l&agrave;, l&agrave;n gi&oacute; độc từ cuộc khủng hoảng t&agrave;i ch&iacute;nh Mỹ năm 2008. Hệ thống ng&acirc;n h&agrave;ng ch&acirc;u &Acirc;u vốn c&oacute; nhiều khuyết tật ngay b&ecirc;n trong nội tạng kh&oacute; m&agrave; tho&aacute;t khỏi khủng hoảng; Năm l&agrave;, yếu tố kh&aacute;ch quan như t&igrave;nh trạng gi&agrave; h&oacute;a d&acirc;n số, tỉ trọng người gi&agrave; ng&agrave;y c&agrave;ng cao.</p> <p> Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u c&oacute; sự thống nhất về kinh tế m&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; sự thống nhất về ch&iacute;nh trị. Ng&acirc;n h&agrave;ng Trung ương ch&acirc;u &Acirc;u cũng trong t&igrave;nh trạng tương tự. Nghĩa l&agrave;, c&oacute; thể bơm tiền cho c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng vay để mua tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ cho từng quốc gia nhằm trợ gi&uacute;p cho c&aacute;c mục chi ti&ecirc;u c&ocirc;ng, nhưng lại kh&ocirc;ng c&oacute; thẩm quyền cần thiết để &eacute;p c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng v&igrave; mọi quyết định phải c&oacute; sự đồng &yacute; của tất cả. Ch&iacute;nh v&igrave; vậy, khủng hoảng t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Acirc;u l&agrave; sự kết hợp của 3 cuộc khủng hoảng: khủng hoảng của đồng euro, khủng hoảng nợ c&ocirc;ng v&agrave; khủng hoảng ng&acirc;n h&agrave;ng kh&aacute;c. Kh&aacute;c với Mỹ, nơi doanh nghiệp chủ động t&igrave;m vốn tr&ecirc;n thị trường chứng kho&aacute;n, c&aacute;c doanh nghiệp ch&acirc;u &Acirc;u lệ thuộc v&agrave;o hệ thống ng&acirc;n h&agrave;ng nhiều hơn. V&igrave; vậy, nếu ng&acirc;n h&agrave;ng sụp đổ th&igrave; nhiều doanh nghiệp khốn đốn v&agrave; kinh tế ch&acirc;u &Acirc;u kh&ocirc;ng chỉ bị suy trầm m&agrave; c&ograve;n bị suy tho&aacute;i, tức l&agrave; nặng hơn, s&acirc;u hơn v&agrave; rộng hơn. L&otilde;i căn bản nhất rong cuộc khủng hoảng n&agrave;y l&agrave; khủng hoảng ch&iacute;nh trị v&igrave; m&acirc;u thuẫn quyền lợi giữa c&aacute;c nước. Khủng hoảng nợ c&ocirc;ng xảy ra kh6ong chỉ trong phạm vi 17 nước của khu vực đồng euro hay 27 nước của Li&ecirc;n minh ch&acirc;u &Acirc;u m&agrave; lan ra to&agrave;n cầu.</p> <p> Tổng mức nợ xấu m&agrave; c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng ch&acirc;u &Acirc;u đang bị kẹt tại 5 quốc gia khủng hoảng nợ c&ocirc;ng (Hy Lạp, Ai Len, Bồ Đ&agrave;o Nha, T&acirc;y Ban Nha, Italia) đ&atilde; l&ecirc;n tới 2100 tỷ USD (th&aacute;ng 9/2011), trong đ&oacute; Hy lạp, Ai Len v&agrave; Bồ Đ&agrave;o Nha đ&atilde; nhận cứu trợ của IMF v&agrave; Quỹ EFSF của EU. Nếu Hy Lạp ph&aacute; sản, c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng sẽ bị mất từ 50 &ndash; 60% tổng gi&aacute; trị tr&aacute;i phiếu c&aacute;c quốc gia m&agrave; họ nắm trong tay, chỉ số t&iacute;n dụng quốc gia bị giảm, gi&aacute; trị của c&aacute;c tr&aacute;i phiếu cũng bị giảm theo, t&agrave;i ch&iacute;nh của ng&acirc;n h&agrave;ng bị thất tho&aacute;t nhiều hơn, nguy cơ khủng hoảng t&iacute;n dụng lan rộng. Điều n&agrave;y c&agrave;ng l&agrave;m nhấn ch&igrave;m nền kinh tế đang bị suy tho&aacute;i của ch&acirc;u &Acirc;u.</p> <p> Tuy nhi&ecirc;n, để thuyết phục c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng chấp nhận khoản cắt giảm nợ 50% số nợ Hy Lạp tr&aacute;nh nguy cơ sụp đổ của đồng euro gặp nhiều kh&oacute; khăn. Y&ecirc;u cầu n&agrave;y vấp phải sự phản đối của một số ng&acirc;n h&agrave;ng v&agrave; c&aacute;c nh&agrave; đầu tư tư nh&acirc;n, bởi theo họ: 1) sẽ l&agrave;m cho c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng bị hụt vốn; 2) sẽ tạo tiền đề nguy hiểm về việc &ldquo;x&oacute;a nợ c&ocirc;ng&rdquo; cho c&aacute;c quốc gia khủng hoảng. Theo đ&aacute;nh gi&aacute;, việc x&oacute;a một phần nợ kh&ocirc;ng c&oacute; nghĩa l&agrave; x&oacute;a trắng, m&agrave; c&ograve;n c&oacute; thể tạo cơ hội cứu v&atilde;n phần nợ c&ograve;n lại, nếu kh&ocirc;ng, một khi Hy Lạp sụp đổ th&igrave; việc mất trắng l&agrave; kh&oacute; tr&aacute;nh khỏi, thiệt hại sẽ trầm trọng hơn, với mức cắt giảm 50% nợ trong giai đoạn trước mắt sẽ gi&uacute;p Hy Lạp c&oacute; thể tự đứng vững tạm thời v&agrave; tr&aacute;nh khủng hoảng nợ lan rộng đe dọa l&agrave;m suy tho&aacute;i kinh tế to&agrave;n ch&acirc;u &Acirc;u. Để thực hiện động th&aacute;i cắt giảm nợ, c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng ch&acirc;u &Acirc;u được y&ecirc;u cầu tăng cường huy động vốn tr&ecirc;n thị trường để tạm thời b&ugrave; đắp v&agrave;o khoản th&acirc;m hụt vốn do giảm nợ, mức cụ thể l&agrave; 150 tỷ USD. B&ecirc;n cạnh đ&oacute;, k&ecirc;u gọi c&aacute;c Ch&iacute;nh phủ ch&acirc;u &Acirc;u hỗ trợ ng&acirc;n h&agrave;ng trong việc t&igrave;m nguồn vốn hoạt động. C&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng ch&acirc;u &Acirc;u c&oacute; đặc điểm l&agrave; phụ thuộc v&agrave;o c&aacute;c khoản vay ngắn hạn, từ đ&oacute; tạo ra rủi ro cao dễ dẫn đến ph&aacute; sản một khi nguồn huy động vốn ngắn hạn đ&oacute; kh&ocirc;ng ổn định v&agrave; thậm ch&iacute; bị thu hẹp. Để tr&aacute;nh nguy cơ n&agrave;y xảy ra, kế hoạch của EU l&agrave; y&ecirc;u cầu Ng&acirc;n h&agrave;ng Trung ương Ch&acirc;u &Acirc;u c&ugrave;ng c&aacute;c cơ quan li&ecirc;n quan nhanh ch&oacute;ng x&acirc;y dựng hệ thống cung cấp vốn mới nhằm gi&uacute;p c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng chấm dứt t&igrave;nh trạng huy động vốn ngắn hạn. Biện ph&aacute;p an to&agrave;n bảo đảm đ&oacute; l&agrave; đ&ograve;i hỏi c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng d&agrave;nh ra 9% (th&aacute;ng 6/2012) gi&aacute; trị t&agrave;i sản để l&agrave;m nguồn vốn dự ph&ograve;ng (tăng gần gấp đ&ocirc;i so với tỷ lệ 5% hiện tại). Nhằm tr&aacute;nh việc giảm gi&aacute; trị tổng t&agrave;i sản để dễ d&agrave;ng đạt được tỉ lệ 9%, c&aacute;c nh&agrave; quản l&yacute; cần tăng cường kiểm tra, kiểm so&aacute;t đối với c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng.</p> <p> Năm 2010, để củng cố hơn nữa hệ thống ng&acirc;n h&agrave;ng &ndash; t&agrave;i ch&iacute;nh v&agrave; củng cố niềm tin của c&aacute;c nh&agrave; đầu tư to&agrave;n cầu. EU đ&atilde; kiểm tra &ldquo;sức khỏe&rdquo; của 91 ng&acirc;n h&agrave;ng tại 20 nước th&agrave;nh vi&ecirc;n. Kết quả c&oacute; 7 ng&acirc;n h&agrave;ng kh&ocirc;ng đủ ti&ecirc;u chuẩn, trong đ&oacute; c&oacute; Ng&acirc;n h&agrave;ng Hypo Real Estate (Đức); Ng&acirc;n h&agrave;ng Agricultural Bank SA (Hy Lạp) v&agrave; 5 ng&acirc;n h&agrave;ng kh&aacute;c của T&acirc;y Ban Nha. Cả 7 ng&acirc;n h&agrave;ng n&agrave;y đều ở trong t&igrave;nh trạng cần tăng vốn th&ecirc;m khoảng 3,5 tỷ euro để duy tr&igrave; tỉ lệ vốn ở mức 6%. OECD k&ecirc;u gọi khu vực đồng euro cải tổ hệ thống ng&acirc;n h&agrave;ng v&agrave; huy động th&ecirc;m vốn để c&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng tiếp tục mở van t&iacute;n dụng cho tư nh&acirc;n v&agrave; doanh nghiệp.</p> <p> Ng&acirc;n h&agrave;ng Trung ương ch&acirc;u &Acirc;u l&agrave; cơ quan c&oacute; đầy đủ thẩm quyền v&agrave; khả năng để l&agrave;m hạ nhiệt l&atilde;i suất t&iacute;n dụng cấp cho những th&agrave;nh vi&ecirc;n yếu k&eacute;m nhất trong khu vực đồng euro. ECB c&oacute; thể đơn phương can thiệp hoặc phối hợp c&ugrave;ng với EFSF để bảo vệ đồng euro một c&aacute;ch l&acirc;u d&agrave;i. C&aacute;c ng&acirc;n h&agrave;ng n&ecirc;n giữ l&atilde;i suất ở mức thấp để khuyến kh&iacute;ch ti&ecirc;u thụ v&agrave; đầu tư. B&ecirc;n cạnh đ&oacute;, m&ocirc;i trường kinh tế cần phải được cải thiện, củng cố niềm tin của khu vực tư nh&acirc;n v&agrave; người ti&ecirc;u d&ugrave;ng.</p> <p> Thứ năm, t&aacute;i cấu tr&uacute;c nền kinh tế. T&iacute;nh cấp thiết của t&aacute;i cấu tr&uacute;c nền knh tế được thể hiện th&ocirc;ng qua c&aacute;c nh&acirc;n tố sau: 1) Cuộc khủng hoảng nợ c&ocirc;ng cho thấy chiến lược hướng ra thị trường qu&aacute; mức c&oacute; thể đưa tới những kh&oacute; khăn nghi&ecirc;m trọng khi thị trường nước ngo&agrave;i chao đảo. Do đ&oacute;, trong thời gian tới tr&ecirc;n thế giới sẽ diễn ra xu thế cơ cấu lại nền kinh tế v&agrave; thị trường theo hướng c&acirc;n bằng hơn giữa thị trường trong nước v&agrave; nước ngo&agrave;i, đặc biệt ở c&aacute;c nền kinh tế c&oacute; dung lượng thị trường nội địa lớn; 2) Cuộc c&aacute;ch mạng khoa học c&ocirc;ng nghệ hiện đại với nội dung chủ yếu l&agrave; c&aacute;ch mạng trong lĩnh vực c&ocirc;ng nghệ th&ocirc;ng tin, c&ocirc;ng nghệ sinh học, c&ocirc;ng nghệ vật liệu mới, c&oacute; đặc trưng nổi bật l&agrave; sự th&acirc;m nhập nhanh của tri thức v&agrave; c&ocirc;ng nghệ cao v&agrave;o tất cả c&aacute;c ng&agrave;nh, c&aacute;c lĩnh vực kinh tế, v&agrave; quyết định xu hướng h&igrave;nh th&agrave;nh cơ cấu kinh tế mới đang t&aacute;c động rất mạnh mẽ đến c&aacute;c nền kinh tế tr&ecirc;n thế giới. Nền kinh tế được gọi bằng những kh&aacute;i niệm kh&aacute;c nhau như nền kinh tế kỹ thuật số (digital economy), kinh tế th&ocirc;ng tin (information economy), kinh tế mạng (network economy); 3) Cơ sở cho t&aacute;i cấu tr&uacute;c nền kinh tế dựa tr&ecirc;n: i) mật độ kinh tế cao hơn thể hiện th&ocirc;ng qua mức độ tập trung của hoạt động kinh tế hay tổng sức mua tr&ecirc;n một đơn vị diện t&iacute;ch bề mặt, v&iacute; dụ như GDP tr&ecirc;n một km2; ii) khoảng c&aacute;ch ngắn hơn để tiếp cận thị trường; iii) &iacute;t sự chia cắt hơn để tranh thủ lợi thế quy m&ocirc; v&agrave; chuy&ecirc;n m&ocirc;n h&oacute;a; 4) Xu hướng to&agrave;n cầu h&oacute;a ng&agrave;y c&agrave;ng gia tăng. Kinh tế to&agrave;n cầu sẽ được cơ cấu lại, trong đ&oacute; c&aacute;c ng&agrave;nh, c&aacute;c sản phẩm tiết kiệm năng lượng th&acirc;n thiện với m&ocirc;i trường sẽ được quan t&acirc;m hơn&hellip; Đặc điểm nổi bật của to&agrave;n cầu h&oacute;a kinh tế l&agrave; t&iacute;nh t&ugrave;y thuộc lẫn nhau giữa c&aacute;c nền kinh tế ng&agrave;y c&agrave;ng gia tăng.</p> <p> Một số nh&agrave; kinh tế lại coi t&aacute;i cấu tr&uacute;c kinh tế l&agrave; vấn đề lớn cần phải giải quyết của nền kinh tế thế giới n&oacute;i chung cũng như của ch&acirc;u &Acirc;u n&oacute;i ri&ecirc;ng. T&aacute;i cấu tr&uacute;c kinh tế của ch&acirc;u &Aacute; (Th&aacute;i Lan, Inđ&ocirc;n&ecirc;xia&hellip;) được xem l&agrave; b&agrave;i học kinh nghiệm r&uacute;t ra cho ch&acirc;u &Acirc;u. Th&aacute;i Lan đ&atilde; thực hiện t&aacute;i cơ cấu nền kinh tế của m&igrave;nh sau khủng hoảng t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Aacute; năm 1997. Trong kế hoạch ph&aacute;t triển kinh tế &ndash; x&atilde; hội (2007 &ndash; 2011), Ch&iacute;nh phủ Th&aacute;i Lan khẳng định: t&aacute;i cơ cấu kinh tế l&agrave; cần thiết để đạt được sự ph&aacute;t triển c&acirc;n bằng v&agrave; bền vững. Inđ&ocirc;n&ecirc;xia cũng nhờ c&aacute;c nỗ lực lớn nhằm t&aacute;i cấu tr&uacute;c nền kinh tế trong thập kỷ qua, từ một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng t&agrave;i ch&iacute;nh ch&acirc;u &Aacute; cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Inđ&ocirc;n&ecirc;xia đ&atilde; trở th&agrave;nh một trong những nền kinh tế &ldquo;n&oacute;ng&rdquo; nhất khu vực. Th&agrave;nh c&ocirc;ng của Inđ&ocirc;n&ecirc;xia v&agrave; c&aacute;c nền kinh tế đang cất c&aacute;nh của ch&acirc;u &Aacute; cho thấy r&otilde; một điều l&agrave; ch&acirc;u &Acirc;u sẽ cần phải trải qua một thời kỳ khắc khổ để phục hồi kinh tế. &Ocirc;ng Pierre Lapoint, một chiến lược gia kinh tế vĩ m&ocirc; tại Brockhouse Cooper, nhận định: T&aacute;i cấu tr&uacute;c l&agrave; một bước đi kh&ocirc;ng thể thiếu ở ch&acirc;u &Aacute; v&agrave; ch&acirc;u &Acirc;u n&ecirc;n l&agrave;m điều tương tự. Ch&acirc;u &Acirc;u đ&atilde; đưa ra chiến lược kinh tế 10 năm (2010 &ndash; 2020) thay cho chiến lược Lisbon (2000 &ndash; 2010) với mục ti&ecirc;u th&uacute;c đẩy ph&aacute;t triển kinh tế ch&acirc;u &Acirc;u dựa v&agrave;o tri thức v&agrave; đổi mới, ngăn chặn nguy cơ t&aacute;i xuất hiện khủng hoảng nợ c&ocirc;ng, tạo việc l&agrave;m v&agrave; duy tr&igrave; đ&agrave; tăng trưởng kinh tế.</p> <p> Theo đ&aacute;nh gi&aacute; của &ocirc;ng Olli Rehn &ndash; Ủy vi&ecirc;n kinh tế ch&acirc;u &Acirc;u &ndash; t&aacute;i cấu tr&uacute;c kinh tế c&oacute; thể gi&uacute;p nền kinh tế EU tăng trưởng tr&ecirc;n 2% trong thập kỷ tới, tạo th&ecirc;m hơn 10 triệu việc l&agrave;m v&agrave; giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống c&ograve;n 3% năm 2020. Một trong những biện ph&aacute;p cải c&aacute;ch n&agrave;y l&agrave; việc mở cửa thị trường, x&oacute;a bỏ r&agrave;o cản đối với c&aacute;c c&ocirc;ng ty tư nh&acirc;n v&agrave; c&aacute; nh&acirc;n đầu tư v&agrave;o khối. Hy Lạp, Ai Len cần phải t&aacute;i cấu tr&uacute;c cao bởi Đức, &Aacute;o, H&agrave; Lan đ&atilde; kh&ocirc;ng thể v&agrave; kh&ocirc;ng muốn nu&ocirc;i những con nợ kh&ocirc;ng c&ograve;n hy vọng trả được nợ. Việc t&aacute;i cơ cấu lại c&aacute;c khoản t&iacute;n dụng l&agrave; cần thiết bởi v&igrave; bất kỳ tiền lệ kh&ocirc;ng trả được khoản nợ c&ocirc;ng ở khu vực đồng euro đều sẽ k&eacute;o theo những hậu quả nặng nề. Việc th&agrave;nh lập Quỹ tiền tệ của ri&ecirc;ng EU (với số vốn ban đầu l&agrave; 750 triệu euro) được coi l&agrave; bước đầu ti&ecirc;n của tiến tr&igrave;nh cải c&aacute;ch. Quỹ tiền tệ EU sẽ l&agrave; một tổ chức đủ mạnh với nguồn lực c&oacute; thể can thiệp nhanh v&agrave;o những th&agrave;nh vi&ecirc;n gặp kh&oacute; khăn. B&ecirc;n cạnh đ&oacute;, Cơ chế &ldquo;học kỳ ch&acirc;u &Acirc;u&rdquo; (European Semester) được thiết lập nhằm phối hợp li&ecirc;n kết chặt chẽ giữa c&aacute;c th&agrave;nh vi&ecirc;n ch&acirc;u &Acirc;u về kinh tế để tr&aacute;nh t&aacute;i diễn khủng hoảng nợ tương tự. Mục ti&ecirc;u của cơ chế n&agrave;y l&agrave; gi&aacute;m s&aacute;t mạnh mẽ để kiểm so&aacute;t kinh tế vĩ m&ocirc;, kiểm so&aacute;t chi ti&ecirc;u ng&acirc;n s&aacute;ch, th&acirc;m hụt t&agrave;i ch&iacute;nh.. Tiếp theo đưa Quỹ khủng hoảng tạm thời của ch&acirc;u &Acirc;u trở th&agrave;nh Quỹ thường xuy&ecirc;n (do c&aacute;c th&agrave;nh vi&ecirc;n EU v&agrave; IMF g&oacute;p vốn).</p> <p> Hy Lạp cam kết sẽ &ldquo;t&aacute;i cấu tr&uacute;c&rdquo; nền kinh tế để tho&aacute;t khỏi cuộc khủng hoảng nợ, th&ocirc;ng qua một kế hoạch tới năm 2015 nhằm cắt gảim ng&acirc;n s&aacute;ch v&agrave; b&aacute;n t&agrave;i sản. Mục ti&ecirc;u giảm chi ng&acirc;n s&aacute;ch từ mức 53% GDP năm 2009 xuống 44% GDP v&agrave;o năm 2015. Trước mắt, Hy Lạp sẽ tiết kệm 23 tỷ euro từ c&aacute;c ch&iacute;nh s&aacute;ch cắt giảm chi ti&ecirc;u giai đoạn 2012 &ndash; 2015 v&agrave; tiết kiệm 3 tỷ euro kh&aacute;c th&ocirc;ng qua c&aacute;c biện ph&aacute;p &ldquo;sửa chữa&rdquo; t&agrave;i ch&iacute;nh &aacute;p dụng ngay trong năm 2011. Ngo&agrave;i ra, Hy Lạp cũng sẽ b&aacute;n t&agrave;i sản quốc gia trị gi&aacute; 15 tỷ euro, đồng thời tư nh&acirc;n h&oacute;a v&agrave;i tập đo&agrave;n quốc doanh như c&ocirc;ng ty điện lực c&ocirc;ng cộng (Public Power Company &ndash; PPC) v&agrave; tập đo&agrave;n viễn th&ocirc;ng OTE nhằm giảm &ldquo;n&uacute;i nợ&rdquo; khổng lồ. Mục ti&ecirc;u của Hy Lạp l&agrave; sẽ đạt được &iacute;t nhất 50 tỷ euro (khoảng 71,22 tỷ đ&ocirc;la) th&ocirc;ng qua chương tr&igrave;nh tư nh&acirc;n h&oacute;a trong 4 năm (2010 &ndash; 2014) nhằm cắt giảm nợ. Theo mục ti&ecirc;u mới đ&acirc;y nhất, Hy Lạp sẽ phấn đấu đạt được 15 tỷ euro (khoảng 21,36 tỷ đ&ocirc;la) cho tới năm 2013. Hy Lạp đ&atilde; chỉ định nh&oacute;m c&aacute;c nh&agrave; tư vấn cho 15 dự &aacute;n tư nh&acirc;n h&oacute;a, trogn đ&oacute; c&oacute; dự &aacute;n b&aacute;n 34% cổ phần trong c&ocirc;ng ty cung cấp dịch vụ c&aacute; cược OPAP, một trong số &iacute;t ỏi c&aacute;c c&ocirc;ng ty l&agrave;m ăn c&oacute; l&atilde;i. Việc tư nh&acirc;n h&oacute;a một phần hay to&agrave;n bộ khoảng 30 doanh nghiệp nh&agrave; nước, từ lĩnh vực vận tải (xe lửa, cảng v&agrave; s&acirc;n bay) đến năng lượng với c&ocirc;ng ty điện lực quốc gia, đến lĩnh vực giải tr&iacute; (xổ số, c&aacute; cược) hay quản l&yacute; nước c&oacute; thể mang lại th&ecirc;m 15 tỷ euro cho Hy Lạp. Tuy nhi&ecirc;n, việc b&aacute;n phần bất động sản do nh&agrave; nước sở hữu, được xem l&agrave; mang lại nhiều tiền nhất, khoảng 35 tỷ euro. Y&ecirc;u cầu của c&aacute;c chủ nợ (Ủy ban ch&acirc;u &Acirc;u, IMF v&agrave; Ng&acirc;n h&agrave;ng Trung ương ch&acirc;u &Acirc;u) đặt Hy Lạp dưới sự gi&aacute;m s&aacute;t chặt chẽ n&ecirc;n chương tr&igrave;nh tư nh&acirc;n h&oacute;a của Hy Lạp kh&ocirc;ng phải chỉ c&oacute; m&igrave;nh Nh&agrave; nước Hy Lạp quản l&yacute;. Một cơ quan quản l&yacute; độc lập v&agrave; chuy&ecirc;n nghiệp được thiết lập để triển khai gi&aacute;m s&aacute;t chương tr&igrave;nh tư nh&acirc;n h&oacute;a của Hy Lạp.</p> <p> Hy Lạp giải quyết cuộc khủng hoảng nợ bằng biện ph&aacute;p &ldquo;t&aacute;i cấu tr&uacute;c kinh tế&rdquo; chứ kh&ocirc;ng phải l&agrave; &ldquo;t&aacute;i cơ cấu nợ&rdquo; bởi v&igrave; &ldquo;t&aacute;i cơ cấu nợ&rdquo; c&oacute; thể ph&aacute; hủy l&ograve;ng tin của c&aacute;c nh&agrave; đầu tư đối với Hy Lạp. Hy Lạp kh&ocirc;ng n&ecirc;n t&aacute;i cơ cấu nợ (tức l&agrave; cho miễn trả l&atilde;i trong một thời gian hoặc đẩy l&ugrave;i thời điềm thanh to&aacute;n nợ) v&igrave; giải ph&aacute;p n&agrave;y kh&ocirc;ng giải quyết được những kh&oacute; khăn kinh tế của Hy Lạp, tr&aacute;i lại sẽ g&acirc;y thiệt hại cho khu vực Eurozone. T&aacute;i cấu tr&uacute;c nợ khổng lồ của Hy Lạp sẽ kh&ocirc;ng gi&uacute;p g&igrave; nước n&agrave;y bởi Ch&iacute;nh phủ Hy Lạp cần phải tập trung v&agrave;o th&uacute;c đẩy nền kinh tế. Theo Chuy&ecirc;n gia kinh tế cao cấp của Ng&acirc;n h&agrave;ng Trung ương ch&acirc;u &Acirc;u &ndash; &ocirc;ng Juergen Stark đ&aacute;nh gi&aacute;: Nếu một quốc gia trong khu vực đồng tiền chung ch&acirc;u &Acirc;u phải t&aacute;i cấu tr&uacute;c lại nợ, cuộc khủng hoảng ng&acirc;n h&agrave;ng sẽ xảy ra, v&agrave; trong trường hợp xấu nhất c&oacute; thể g&acirc;y ra những t&aacute;c động d&acirc;y chuyền tồi tệ hơn với sự sụp đổ của ng&acirc;n h&agrave;ng Lehman Brothers (Mỹ). Theo &ocirc;ng: một quốc gia nợ nần nhiều cần phải cố gắng đạt thặng dư ng&acirc;n s&aacute;ch. T&aacute;i cấu tr&uacute;c nợ sẽ kh&ocirc;ng thay đổi được c&aacute;n c&acirc;n ng&acirc;n s&aacute;ch; &nbsp;cần phải tăng nhanh hơn nữa tăng trưởng kinh tế. T&aacute;i cấu tr&uacute;c nợ sẽ kh&ocirc;ng gi&uacute;p g&igrave; cho th&uacute;c đẩy tăng trưởng kinh tế.</p> <p> Kế hoạch cải c&aacute;ch của Italia l&agrave; sẽ b&aacute;n c&aacute;c t&agrave;i sản c&ocirc;ng trị gi&aacute; 21 tỷ euro, n&acirc;ng độ tuổi về hưu từ 65 tuổi (năm 2011) l&ecirc;n 67 tuổi (năm 2026), tăng thuế VAT v&agrave; gi&aacute; nhi&ecirc;n liệu, ngừng tăng lương ở khu vực nh&agrave; nước đến năm 2014, cải c&aacute;ch thị trường lao động, miễn giảm thuế cho c&aacute;c dự &aacute;n, x&acirc;y dựng cơ sở hạ tầng v&agrave; những c&ocirc;ng ty sử dụng lao động trẻ.</p> <p> <strong><em>Giải ph&aacute;p cho nợ c&ocirc;ng của Việt Nam</em></strong></p> <p> Trước t&igrave;nh h&igrave;nh hiện nay, việc đi vay với l&atilde;i suất thị trường để chi ti&ecirc;u c&ocirc;ng kh&ocirc;ng c&ograve;n l&agrave; giải ph&aacute;p tốt, khi m&agrave; ch&uacute;ng ta đ&atilde; mất đi nhiều ưu đ&atilde;i. Dự b&aacute;o ph&aacute;t triển kinh tế x&atilde; hội của Việt Nam đến năm 2020 sẽ vẫn phải đi vay b&ugrave; đắp thiếu hụt về đầu tư. Một số biện ph&aacute;p lưu &yacute;:</p> <p> Thứ nhất. Nợ c&ocirc;ng phụ thuộc v&agrave;o tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự ph&aacute;t triển kinh tế l&agrave; điều kiện cần để tăng thu cho ng&acirc;n s&aacute;ch nh&agrave; nước v&agrave; giảm &aacute;p lực từ nợ c&ocirc;ng. Muốn vậy cần đổi mới m&ocirc; h&igrave;nh kinh tế, cải thiện bộ m&aacute;y tổ chức hoạt động c&aacute;c cơ quan nh&agrave; nước, đầu tư c&oacute; trọng điểm tr&aacute;nh đầu tư d&agrave;n trải thất tho&aacute;t.</p> <p> Doanh nghiệp nh&agrave; nước hoạt động c&oacute; hiệu quả thấp hơn so với doanh nghiệp tư nh&acirc;n. Doanh nghiệp nh&agrave; nước l&agrave;m ăn thua lỗ k&eacute;o theo nhiều ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nh&agrave; nước thất tho&aacute;t vốn. Cần giảm bớt sự phụ thuộc của c&aacute;c doanh nghiệp nh&agrave; nước, để c&aacute;c doanh nghiệp hoạt động độc lập, cạnh tranh c&ocirc;ng bằng với c&aacute;c doanh nghiệp tư nh&acirc;n v&agrave; c&aacute;c doanh nghiệp nước ngo&agrave;i. Chỉ c&oacute; vậy mới cải thiện sức cạnh tranh của c&aacute;c doanh nghiệp nh&agrave; nước.</p> <p> Thứ hai. Nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam phụ thuộc hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nh&agrave; nước. C&aacute;c chuy&ecirc;n gia kinh tế cho rằng Ch&iacute;nh phủ cần t&igrave;m kiếm c&aacute;c giải ph&aacute;p quản l&yacute; hiệu quả. Cần thay đổi c&aacute;ch t&iacute;nh nợ c&ocirc;ng để thu nhận được ch&iacute;nh x&aacute;c nhất về số liệu về khoản nợ c&ocirc;ng của Ch&iacute;nh phủ v&agrave; doanh nghiệp nh&agrave; nước.</p> <p> Huy động vốn trong nước thay v&igrave; vay vốn nước ngo&agrave;i. Thực tế khoản tiền nh&agrave;n rỗi trong nh&acirc;n d&acirc;n ho&agrave;n to&agrave;n ph&ugrave; hợp cho việc mua tr&aacute;i phiếu ch&iacute;nh phủ, nhất l&agrave; trong ho&agrave;n cảnh ch&uacute;ng ta phải vay với l&atilde;i suất kh&aacute; cao.</p> <p> Cần thực hiện kỷ luật t&agrave;i kh&oacute;a r&otilde; r&agrave;ng, nghi&ecirc;m ngặt, tr&aacute;nh t&igrave;nh trạng th&acirc;m hụt ng&acirc;n s&aacute;ch, r&agrave; so&aacute;t lại những dự &aacute;n đầu tư, ph&ograve;ng chống tham nhũng, minh bạch về t&agrave;i ch&iacute;nh.</p> <p> Phải c&oacute; ưu ti&ecirc;n r&otilde; r&agrave;ng trong việc chi ti&ecirc;u nợ c&ocirc;ng. Những ưu tiền cần đặt ra l&agrave; cơ sở hạ tầng c&ocirc;ng &iacute;ch, dịch vụ phục vụ đời sống an sinh x&atilde; hội. C&aacute;c doanh nghiệp nh&agrave; nước cần ch&uacute; trọng ph&aacute;t triển lợi &iacute;ch, mở rộng đầu tư.</p> <p> X&acirc;y dựng một cơ chế quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng hiệu quả. Chế độ kiểm so&aacute;t rất cần sự minh bạch v&agrave; c&oacute; tr&aacute;ch nhiệm giải tr&igrave;nh để c&oacute; thể kiểm so&aacute;t tốt nợ c&ocirc;ng của Việt Nam. Hiện tại, chất lượng đội ngũ kiểm to&aacute;n nh&agrave; nước của Việt Nam c&ograve;n thấp, chưa đủ khả năng ph&acirc;n t&iacute;ch đ&aacute;nh gi&aacute; bản chất của nợ c&ocirc;ng, ph&acirc;n loại đ&aacute;nh gi&aacute; những t&aacute;c động của n&oacute; c&oacute; thể xảy ra với nền kinh tế. Hơn nữa, gi&aacute;m s&aacute;t chi ti&ecirc;u của Ch&iacute;nh phủ cũng cần phải thể chế h&oacute;a v&agrave; bắt buộc thi h&agrave;nh để tr&aacute;nh t&igrave;nh trạng chi ti&ecirc;u l&atilde;ng ph&iacute;, kh&ocirc;ng đ&uacute;ng mục đ&iacute;ch. Luật Ng&acirc;n s&aacute;ch nh&agrave; nước cũng cần r&agrave; so&aacute;t lại nhằm n&acirc;ng cao hiệu quả của chi ti&ecirc;u c&ocirc;ng. Nếu kh&ocirc;ng c&oacute; cơ chế quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng hiệu quả ch&uacute;ng ta kh&ocirc;ng thể đ&aacute;nh gi&aacute; thấu đ&aacute;o t&igrave;nh h&igrave;nh tăng trưởng kinh tế, lượng dự trữ quốc gia l&agrave; bao nhi&ecirc;u, cần l&agrave;m g&igrave; để giảm &aacute;p lực của nợ c&ocirc;ng đối với nền kinh tế.</p> <p> Thứ ba. Vừa vay để đầu tư, vừa vay để đảo nợ l&agrave;m cho nợ c&ocirc;ng tăng l&ecirc;n nhanh ch&oacute;ng. Cần chỉ định một &ldquo;đầu mối&rdquo; xử l&yacute; nợ c&ocirc;ng với quyền hạn trong việc huy động, ph&acirc;n bổ, chịu tr&aacute;ch nhiệm c&oacute; thể xem l&agrave; ph&ugrave; hợp trong thời điểm hiện nay.</p> <p> Thứ tư. Minh bạch trong quản l&yacute;. Để g&oacute;p phần giảm nợ c&ocirc;ng việc quản l&yacute; sử dụng vốn được sử dụng một c&aacute;ch nghi&ecirc;m t&uacute;c c&oacute; hiệu quả.</p> <p> Thứ năm. Thu h&uacute;t nguồn thu ngoại tệ. Thu h&uacute;t nguồn thu ngoại tệ bằng c&aacute;ch ph&aacute;t triển lĩnh vực xuất khẩu như n&ocirc;ng sản, hải sản, da gi&agrave;y, kho&aacute;ng sản. Ph&aacute;t triển du lịch, thu h&uacute;t vốn đầu tư nước ngo&agrave;i v&agrave;o c&aacute;c dự &aacute;n kinh tế. Th&ecirc;m nữa l&agrave; lực lượng lao động của nước ta đang rất dồi d&agrave;o, đ&acirc;y l&agrave; điều kiện cho đất nước ph&aacute;t triển tất cả c&aacute;c ng&agrave;nh thế mạnh, cũng như l&agrave; sức h&uacute;t cho việc đầu tư từ c&aacute;c nước.</p> <p> Thứ s&aacute;u. Xử l&yacute; nghi&ecirc;m minh c&aacute;n bộ c&oacute; dấu hiệu sai phạm trong c&aacute;c dự &aacute;n kinh tế g&acirc;y thất tho&aacute;t lớn cho nh&agrave; nước. R&agrave; so&aacute;t lại t&iacute;nh hiệu quả của c&aacute;c dự &aacute;n đang trong qu&aacute; tr&igrave;nh thực hiện hoặc sắp được triển khai trong thời gian tới.</p> <p> T&oacute;m lại, để ph&aacute;t triển kinh tế Việt Nam kh&ocirc;ng thể kh&ocirc;ng vay nợ nước ngo&agrave;i. Nợ nước ngo&agrave;i c&oacute; &yacute; nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo th&agrave;nh c&uacute; hu&yacute;ch gi&uacute;p Việt Nam ph&aacute;t triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho tăng trưởng v&agrave; ph&aacute;t triển kinh tế, x&oacute;a đ&oacute;i giảm ngh&egrave;o v&agrave; tiến h&agrave;nh c&ocirc;ng nghiệp h&oacute;a, hiện đại h&oacute;a đất nước. Tuy nhi&ecirc;n, nếu vay nợ qu&aacute; nhiều sẽ dẫn tới khủng hoảng nợ, ảnh hưởng nghi&ecirc;m trọng tới sự ph&aacute;t triển kinh tế. Để ph&aacute;t huy tối đa việc vay v&agrave; sử dụng nợ c&ocirc;ng, cần phải kiểm so&aacute;t được t&igrave;nh h&igrave;nh vay nợ, sử dụng nợ v&agrave; trả nợ. Đ&acirc;y ch&iacute;nh l&agrave; ba vấn đề cốt l&otilde;i trong giải quyết vấn đề nợ c&ocirc;ng.</p> <p> Vấn đề nợ c&ocirc;ng nếu kh&ocirc;ng được ch&uacute; trọng quản l&yacute; v&agrave; giải quyết kịp thời sẽ dẫn tới hậu quả kh&oacute; lường, kể cả việc phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng nợ c&ocirc;ng, v&agrave; sẽ t&aacute;c động nghi&ecirc;m trọng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế x&atilde; hội. Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế giới hiện nay v&agrave; chiều hướng hồi phục kinh tế trong nước, c&ocirc;ng t&aacute;c quản l&yacute; nợ lu&ocirc;n cần bảo đảm theo đ&uacute;ng nguy&ecirc;n tắc an to&agrave;n v&agrave; bền vững. Về d&agrave;i hạn, triển vọng của nền kinh tế Việt Nam vẫn l&agrave; t&iacute;ch cực v&agrave; t&igrave;nh trạng nợ c&ocirc;ng của Việt Nam vẫn trong tầm kiểm so&aacute;t nếu Ch&iacute;nh phủ c&oacute; những nỗ lực can thiệp kịp thời.&nbsp;</p> <p> Trong cơ cấu nợ của một quốc gia, nợ c&ocirc;ng l&agrave; danh mục nợ lớn nhất. Đ&acirc;y l&agrave; một cơ cấu t&agrave;i ch&iacute;nh rất phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng đến sự ổn định t&agrave;i ch&iacute;nh trong nước, đặc biệt l&agrave; trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nợ c&ocirc;ng l&agrave; một hiện tượng b&igrave;nh thường nếu như thiết lập được hệ thống quản l&yacute; v&agrave; sử dụng nợ c&ocirc;ng c&oacute; hiệu quả. V&igrave; vậy, việc n&acirc;ng cao hiệu quả quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng được Ch&iacute;nh phủ Việt Nam rất quan t&acirc;m. Một nền kinh tế l&agrave;nh mạnh bao gồm rất nhiều yếu tố l&agrave;nh mạnh, trong đ&oacute; c&oacute; vấn đề nợ c&ocirc;ng. C&ugrave;ng với Ban Quản l&yacute; nợ, mỗi người d&acirc;n cần l&agrave;m tr&ograve;n nghĩa vụ đ&oacute;ng thuế cho nh&agrave; nước.</p> <p> &nbsp;</p> <p> <strong>T&agrave;i liệu tham khảo:</strong></p> <p> 1.&nbsp;&nbsp; B&agrave;i thảo luận ch&iacute;nh s&aacute;ch, CS-10 (2015), &ldquo;Những đặc điểm của nợ c&ocirc;ng Việt Nam&rdquo; của ph&ograve;ng nghi&ecirc;n cứu VEPR.</p> <p> 2.&nbsp; Phạm Minh H&oacute;a (2017), N&acirc;ng cao hiệu quả đầu tư c&ocirc;ng tại Việt Nam, Luận &aacute;n Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc d&acirc;n, H&agrave; Nội.</p> <p> 3.&nbsp; L&ecirc; Thị Diệu Huyền (2012), Ho&agrave;n thiện cơ chế quản l&yacute; nợ c&ocirc;ng của Việt Nam, Luận &aacute;n Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ng&acirc;n h&agrave;ng, H&agrave; Nội.</p> <p> 4.&nbsp; Đỗ Đ&igrave;nh Thu (2006), C&aacute;c giải ph&aacute;p tăng cường quản l&yacute; vay v&agrave; trả nợ của Ch&iacute;nh phủ Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Luận &aacute;n Tiến sĩ Kinh tế, Học viện T&agrave;i ch&iacute;nh, H&agrave; Nội.</p> <p> 5.&nbsp; Thủ tướng (2012), Quyết định số 958/2012/QĐ-TTg về Ph&ecirc; duyệt Chiến lược nợ c&ocirc;ng v&agrave; nợ nước ngo&agrave;i của quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 tầm nh&igrave;n đến năm 2030, ng&agrave;y 27/7/2012.</p> <p> 6.&nbsp; Bộ T&agrave;i ch&iacute;nh (2017). Bản tin nợ c&ocirc;ng.</p> <p> 7.&nbsp; Ch&iacute;nh phủ Việt Nam (2013), Quyết định số 689/QĐ-TTg của Thủ tướng Ch&iacute;nh phủ ng&agrave;y 04/05/2013 ph&ecirc; duyệt Chương tr&igrave;nh quản l&yacute; nợ trung hạn giai đoạn 2013-2015.</p> <p> 8.&nbsp; Ch&iacute;nh phủ Việt Nam (2017), Quyết định số 544/QĐ-TTg của Thủ tướng Ch&iacute;nh phủ ng&agrave;y 20/04/2017 ph&ecirc; duyệt Chương tr&igrave;nh quản l&yacute; nợ trung hạn giai đoạn 2016-2018.</p> <p> 9.&nbsp; Nguyễn Đức Th&agrave;nh (2011), &ldquo;Nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam, một số ph&acirc;n t&iacute;ch v&agrave; thảo luận&rdquo;, Hội thảo về kinh tế Việt Nam năm 2011, triển vọng năm 2012 v&agrave; c&aacute;c giải ph&aacute;p thực hiện kế hoạch ph&aacute;t triển kinh tế x&atilde; hội 2011-2015.</p> <p> 10.&nbsp; Vũ Thanh Hải (2014), Ho&agrave;n thiện tổ chức kiểm to&aacute;n nợ c&ocirc;ng tại Việt Nam, Luận &aacute;n Tiến sĩ Kinh tế, Học viện T&agrave;i ch&iacute;nh, H&agrave; Nội.</p> <p> 12.&nbsp; Mai Thu Hiền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2011), &quot;T&igrave;nh h&igrave;nh nợ c&ocirc;ng v&agrave; quả l&yacute; nợ c&ocirc;ng ở Việt Nam&quot;, Tạp ch&iacute; Ng&acirc;n h&agrave;ng, số 17 (7-2011).</p> <p> &nbsp;</p> <p> &nbsp;</p>
Files đính kèm